3 năm thực hiện Nghị quyết 42: Gần 294.000 tỷ đồng nợ xấu đã được xử lý

Hoàng Yến (thực hiện)
(TBTCVN) - Kể từ khi Nghị quyết 42/2017/QH14 của Quốc hội về thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng (TCTD) có hiệu lực, số nợ xấu được xử lý đã tăng gần gấp đôi so với giai đoạn trước.
aa

Xử lý nợ xấu hiệu quả, bền vững để hỗ trợ doanh nghiệp phát triển.

Xử lý nợ xấu hiệu quả, bền vững để hỗ trợ doanh nghiệp phát triển.

Nghị quyết 42 đã phát huy hiệu quả, góp phần tháo gỡ khó khăn trong xử lý nợ xấu cho các ngân hàng. Tuy nhiên, vẫn còn một số tồn tại trong việc xử lý nợ xấu. Xung quanh vấn đề này, phóng viên TBTCVN đã có cuộc trao đổi với đại biểu Quốc hội Đỗ Văn Sinh - Ủy viên thường trực Ủy ban Kinh tế của Quốc hội.

PV: Nghị quyết 42/2017/QH14 của Quốc hội về thí điểm xử lý nợ xấu của các TCTD có hiệu lực từ 15/8/2017 đến nay đã tròn 3 năm. Qua theo dõi, giám sát, ông đánh giá thế nào về kết quả việc xử lý nợ xấu thời gian qua?

Ông Đỗ Văn Sinh

Ông Đỗ Văn Sinh

Ông Đỗ Văn Sinh: Theo báo cáo của Chính phủ, lũy kế từ 15/8/2017 đến 31/5/2020, toàn hệ thống các TCTD đã xử lý được 293,88 nghìn tỷ đồng nợ xấu, theo Nghị quyết số 42. Số nợ xấu được xử lý theo Nghị quyết số 42 đạt trung bình khoảng 7,15 nghìn tỷ đồng/tháng, cao hơn 3,63 nghìn tỷ đồng/tháng so với kết quả xử lý nợ xấu nội bảng trung bình tháng từ năm 2012 – 2017 của hệ thống các TCTD, trước khi Nghị quyết 42 có hiệu lực.

Đặc biệt là, từ khi có Nghị quyết 42, ý thức trả nợ của khách hàng đã cải thiện, khách hàng chủ động và hợp tác hơn trong việc trả nợ, hạn chế tình trạng chủ tài sản chây ì, chống đối nhằm kéo dài thời gian xử lý.

Một thành công lớn nữa là nhận thức về nợ xấu và xử lý nợ xấu được hiểu đầy đủ, toàn diện hơn. Trước đây nợ xấu và xử lý nợ xấu vẫn được cho là việc của hệ thống ngân hàng. Nhưng thực ra, nợ xấu là vấn đề của bất kỳ một nền kinh tế nào, nó xảy ra do nhiều nguyên nhân cả khách quan và chủ quan. Về chủ quan, nếu không kiểm soát tốt chất lượng tín dụng, không đánh giá đúng hiệu quả cho vay và tài sản đảm bảo thì rõ ràng sẽ dẫn đến nợ xấu. Nhưng cũng có loại nợ xấu là do tình hình kinh tế gây ra, chẳng hạn như đại dịch Covid-19, hay khủng hoảng tài chính… Nếu nền kinh tế tốt, doanh nghiệp hoạt động tốt thì nợ xấu ít và ngược lại.

Khi có Nghị quyết 42, nhận thức về vấn đề này đã được nâng cao hơn. Nghị quyết của Quốc hội đã giao trách nhiệm cho Chính phủ, trong đó có các bộ ngành và tất nhiên vai trò của ngân hàng rất quan trọng. Bên cạnh đó còn có cả trách nhiệm của viện kiểm sát, tòa án.

Đồng thời, cùng với việc ban hành nghị quyết 42, Quốc hội cũng thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật các TCTD. Từ đó, Chính phủ và các bộ ngành đã ban hành nhiều nghị định và thông tư hướng dẫn. Các địa phương cũng ban hành nhiều chỉ thị, chỉ đạo. Viện kiểm sát, tòa án cũng ban hành các văn bản hướng dẫn kèm theo. Đến thời điểm này, tôi cho rằng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về xử lý nợ xấu đã tương đối đầy đủ.

PV: Bên cạnh những kết quả đạt được, việc xử lý nợ xấu theo Nghị quyết 42 còn những hạn chế, khó khăn gì, thưa ông?

Ông Đỗ Văn Sinh: Khó khăn thứ nhất là đến nay vẫn còn nhiều bộ, ngành và địa phương chậm ban hành văn bản hướng dẫn hoặc hướng dẫn không cụ thể, nhận thức không đầy đủ trách nhiệm của mình, thậm chí không nhận thức đầy đủ tinh thần của Nghị quyết 42. Theo nghị quyết quy định, một số trường hợp mà quy định của nghị quyết và luật khác nhau về xử lý nợ xấu và tài sản đảm bảo thì thực hiện theo nghị quyết. Chẳng hạn như về điều kiện chuyển nhượng tài sản đảm bảo là dự án bất động sản, nghị quyết quy định không bắt buộc phải có giấy chứng nhận. Tuy nhiên, trong quá trình xử lý, nhiều trường hợp không căn cứ nghị quyết mà lại căn cứ vào Luật Đất đai, yêu cầu có giấy chứng nhận. Cách vận dụng không đúng, hiểu không đúng này gây khó khăn trong quá trình xử lý và là một trong những điều rất đáng tiếc khi nghị quyết đã quy định mà chưa được thực hiện dẫn đến việc xử lý tài sản đảm bảo khó khăn.

Một khó khăn nữa là công tác phối hợp giữa các cơ quan, địa phương với TCTD. Đây vừa là khiếm khuyết, cũng vừa là vấn đề yếu nhất không chỉ của việc thực hiện Nghị quyết 42 mà còn trong tổ chức thực hiện nhiều chính sách khác của hệ thống pháp luật chúng ta. Cùng một vấn đề, nhưng nếu trách nhiệm cao hơn, phối hợp tích cực hơn thì sẽ hiệu quả hơn.

Bên cạnh đó, một số TCTD cũng chưa thực sự chủ động trong xử lý nợ xấu. Chẳng hạn như việc chủ động cung cấp thông tin cho các cơ quan liên quan, như công an, địa phương, cơ quan thi hành án… để họ cùng phối hợp. Mặc dù các cơ quan đã có trách nhiệm quy định rõ trong Nghị quyết 42, nhưng các ngân hàng cũng phải chủ động hơn, vì đây vẫn là trách nhiệm của TCTD.

PV: Hiện nay, dịch Covid-19 có nguy cơ khiến nợ xấu sẽ tăng rất nhanh. Ông có ý kiến, khuyến nghị gì cho công tác xử lý nợ xấu thời gian tới, cũng như cho Đề án về tái cơ cấu ngân hàng và xử lý nợ xấu giai đoạn 2021 - 2025 mà Ngân hàng Nhà nước đang xây dựng?

Ông Đỗ Văn Sinh: Quan điểm xuyên suốt của việc tái cơ cấu thời gian qua cũng như sắp tới là chúng ta phải nâng cao được năng lực của các TCTD, đặc biệt là năng lực quản trị, năng lực tài chính. Nếu không có năng lực quản trị tốt thì không thể kiểm soát tốt hoạt động ngân hàng. Do đó, thời gian tới, phải có lộ trình tăng năng lực quản trị, năng lực tài chính, từ vấn đề nhân lực đến điều kiện vật chất, đặc biệt là về công nghệ. Cùng với việc tăng năng lực, các ngân hàng cũng cần giảm tối đa chi phí để giảm lãi suất, hỗ trợ doanh nghiệp tốt hơn. Đối với những ngân hàng không đáp ứng được thì cần có phương án sắp xếp lại.

Với tình hình kinh tế hiện nay, doanh nghiệp lao đao, nợ xấu tăng là chắc chắn. Vậy để xử lý nợ xấu hiệu quả một cách bền vững thì vấn đề căn cốt là hỗ trợ để doanh nghiệp phát triển. Doanh nghiệp phải sống và sống khoẻ thì việc xử lý nợ xấu mới thuận lợi. Như vậy mục tiêu của tái cơ cấu là làm sao phục vụ doanh nghiệp tốt hơn, chứ không phải tái cơ cấu để siết chặt lại. Đây là gốc của vấn đề, là bài toán kinh tế xã hội tổng thể chứ không chỉ đơn thuần là tái cơ cấu một ngành.

PV: Xin cảm ơn ông!

“Theo báo cáo của Chính phủ, lũy kế từ 15/8/2017 đến 31/5/2020, toàn hệ thống các tổ chức tín dụng đã xử lý được 293,88 nghìn tỷ nợ xấu, theo Nghị quyết số 42. Số nợ xấu được xử lý từ đạt trung bình khoảng 7,15 nghìn tỷ đồng/tháng, cao hơn 3,63 nghìn tỷ đồng/tháng so với kết quả xử lý nợ xấu nội bảng trung bình tháng từ năm 2012 – 2017 của hệ thống các tổ chức tín dụng, trước khi Nghị quyết 42 có hiệu lực” - Ông Đỗ Văn Sinh

Hoàng Yến (thực hiện)

Hoàng Yến (thực hiện)

Đọc thêm

Ưu tiên đầu tư vốn ODA cho dự án trọng điểm có tác động lan tỏa, tạo đột phá

Ưu tiên đầu tư vốn ODA cho dự án trọng điểm có tác động lan tỏa, tạo đột phá

Đây là một trong những định hướng quan trọng được nêu trong Kế hoạch thực hiện Định hướng thu hút, quản lý và sử dụng vốn ODA và vốn vay ưu đãi nước ngoài giai đoạn 2026 - 2030 vừa được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 441/QĐ-TTg.
Cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng kinh phí quản lý hành chính

Cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng kinh phí quản lý hành chính

Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 75/2026/NĐ-CP ngày 16/3/2026 quy định chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về quản lý, sử dụng kinh phí quản lý hành chính. Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 1/5/2026.

Kho bạc Nhà nước triển khai đồng bộ Nghị quyết Đại hội XIV trong toàn hệ thống

Thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, hệ thống Kho bạc Nhà nước đang tích cực triển khai các nhiệm vụ, giải pháp nhằm cụ thể hóa các mục tiêu, yêu cầu đặt ra đối với lĩnh vực tài chính - ngân sách trong giai đoạn phát triển mới.
Bộ Tài chính nêu tên nhiều đơn vị chậm kiểm kê tài sản công

Bộ Tài chính nêu tên nhiều đơn vị chậm kiểm kê tài sản công

Bộ Tài chính vừa có Công văn số 3156/BTC-QLCS gửi các bộ, cơ quan trung ương và địa phương về việc tiếp tục đôn đốc thực hiện tổng kiểm kê tài sản công thời điểm 0h ngày 1/1/2026.
Dự trữ quốc gia cần hướng tới nguồn lực chiến lược bảo đảm an ninh kinh tế

Dự trữ quốc gia cần hướng tới nguồn lực chiến lược bảo đảm an ninh kinh tế

Hệ thống dự trữ quốc gia đang đứng trước yêu cầu phải tiếp tục hoàn thiện để đáp ứng tốt hơn nhiệm vụ bảo đảm an ninh kinh tế - xã hội trong bối cảnh mới. Việc sửa đổi, bổ sung Chiến lược Phát triển dự trữ quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 được đặt ra nhằm xây dựng hệ thống dự trữ theo hướng chủ động, linh hoạt và ứng phó kịp thời với các tình huống đột xuất, cấp bách.
TP. Hồ Chí Minh dùng công cụ tài chính để hướng dòng kiều hối đầu tư vào khoa học công nghệ

TP. Hồ Chí Minh dùng công cụ tài chính để hướng dòng kiều hối đầu tư vào khoa học công nghệ

TP. Hồ Chí Minh sẽ triển khai đồng bộ các công cụ tài chính để chuyển dịch dòng kiều hối từ tiêu dùng sang đầu tư sản xuất, ưu tiên các lĩnh vực khoa học - công nghệ, công nghiệp chế biến - chế tạo, đổi mới sáng tạo, năng lượng xanh và chuyển đổi số.
Bộ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Văn Thắng tiếp Tổng Giám đốc Ngân hàng ICBC Lưu Tuấn

Bộ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Văn Thắng tiếp Tổng Giám đốc Ngân hàng ICBC Lưu Tuấn

Ngày 17/3/2026, Ủy viên Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Bộ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Văn Thắng tiếp Đoàn công tác Ngân hàng Công Thương Trung Quốc (ICBC), do ông Liu Jun (Lưu Tuấn), Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Trung Quốc, Phó Chủ tịch Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc ICBC làm trưởng đoàn.
Bổ nhiệm ông Tạ Anh Tuấn giữ chức Thứ trưởng Bộ Tài chính

Bổ nhiệm ông Tạ Anh Tuấn giữ chức Thứ trưởng Bộ Tài chính

Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính vừa ký Quyết định số 450/QĐ-TTg ngày 17/3/2026 về việc điều động, bổ nhiệm ông Tạ Anh Tuấn - Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Lắk nhiệm kỳ 2021 - 2026 giữ chức Thứ trưởng Bộ Tài chính.
Xem thêm