3 nhóm đối tượng phải nộp tiền sử dụng đất

Ảnh minh họa
3 nhóm đối tượng phải nộp tiền SDĐ
Theo dự thảo, có 3 nhóm đối tượng phải nộp tiền SDĐ.
Nhóm thứ nhất là người được Nhà nước giao đất để sử dụng vào các mục đích: Hộ gia đình, cá nhân được giao đất ở; Tổ chức kinh tế được giao đất để thực hiện dự án đầu tư xây dựng nhà ở để bán, cho thuê; Người Việt Nam định cư ở nước ngoài, DN FDI được giao đất để xây dựng nhà ở để bán, cho thuê; Tổ chức kinh tế được giao đất thực hiện dự án đầu tư hạ tầng nghĩa trang, nghĩa địa để chuyển nhượng quyền SDĐ; Tổ chức kinh tế được giao đất đầu tư xây dựng hạ tầng khu đô thị, khu dân cư nông thôn để chuyển nhượng hoặc cho thuê; Tổ chức SDĐ để xây dựng công trình hỗn hợp cao tầng, trong đó có diện tích nhà ở.
Thứ hai là người đang SDĐ được Nhà nước cho chuyển sang SDĐ vào mục đích đất ở trong các trường hợp: Đất nông nghiệp, phi nông nghiệp có nguồn gốc được giao không thu tiền SDĐ hoặc được thuê đất, nay được cơ quan nhà nước cho phép chuyển sang sử dụng làm đất ở có thu tiền SDĐ; Đất nông nghiệp được Nhà nước giao có thu tiền SDĐ, chuyển sang sử dụng làm đất ở có thu tiền SDĐ; Đất phi nông nghiệp (không phải là đất ở) được Nhà nước giao có thu tiền SDĐ chuyển sang sử dụng làm đất ở; Đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp (không phải là đất ở) được Nhà nước cho thuê đất chuyển sang sử dụng làm đất ở đồng thời với việc chuyển từ thuê đất sang giao đất có thu tiền SDĐ.
Thứ ba, hộ gia đình, cá nhân đang SDĐ làm nhà ở trước ngày 1/7/2004 khi được cấp giấy chứng nhận quyền SDĐ phải thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định.
Quy định cụ thể về căn cứ tính tiền thu SDĐ
Tại dự thảo, Bộ Tài chính cũng quy định căn cứ tính thu tiền SDĐ là diện tích đất, giá đất theo mục đích SDĐ.
Về giá đất tính thu tiền SDĐ, dự thảo quy định đối với tổ chức được Nhà nước giao đất có thu tiền SDĐ không thông qua đấu giá, được Nhà nước cho phép chuyển mục đích là giá đất cụ thể theo mục đích SDĐ được giao, theo mục đích được chuyển đổi.
Tùy theo điều kiện của từng địa phương và tính chất, giá trị của lô (thửa) đất, cơ quan có thẩm quyền cấp tỉnh thuê tổ chức có chức năng thẩm định giá xác định giá cụ thể của lô (thửa) đất hoặc chủ trì, phối hợp với các Sở, ngành có liên quan xác định giá đất cụ thể của lô (thửa) đất, trình Hội đồng thẩm định giá đất xem xét trước khi trình UBND cấp tỉnh quyết định.
Giá đất tính thu tiền SDĐ đối với trường hợp hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao đất ở mới không thông qua đấu giá là giá đất theo mục đích được giao quy định tại Bảng giá đất nhân (x) với Hệ số điều chỉnh giá đất tại thời điểm có quyết định giao đất.
Giá đất tính thu tiền SDĐ đối với hộ gia đình, cá nhân khi được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền SDĐ hoặc cho phép chuyển mục đích SDĐ là giá đất tính theo mục đích đang sử dụng, hoặc mục đích SDĐ đã được chuyển đổi tại thời điểm nộp đủ hồ sơ hợp lệ đề nghị được cấp giấy hoặc đề nghị được chuyển mục đích SDĐ theo quy định của pháp luật.
Việc xác định diện tích đất trong hạn mức giao đất ở để áp dụng tính thu tiền SDĐ theo giá đất quy định tại bảng giá đất phải đảm bảo nguyên tắc mỗi hộ gia đình, cá nhân chỉ được một lần và cho một thửa đất.
Trường hợp hộ gia đình, cá nhân có nhiều thửa đất thì hộ gia đình, cá nhân được quyền lựa chọn một thửa đất để kê khai, áp dụng quy định này; đối với các thửa đất còn lại, giá đất tính thu tiền SDĐ là giá đất quy định tại Bảng giá đất nhân (x) với Hệ số điều chỉnh giá đất. Hộ gia đình, cá nhân nếu bị phát hiện kê khai gian lận sẽ bị truy thu nộp tiền SDĐ theo quy định của pháp luật đất đai và bị xử phạt theo quy định của pháp luật về thuế.
Giá đất tính thu tiền SDĐ trong trường hợp đấu giá đất hoặc đấu thầu dự án có SDĐ là giá đất trúng đấu giá. Giá khởi điểm đấu giá để giao đất có thu tiền SDĐ được xác định bằng giá đất quy định tại Bảng giá đất nhân (x) với Hệ số điều chỉnh giá đất và không thấp hơn giá đất tại Bảng giá đất.
Trường hợp Dự án có hệ số SDĐ cao hoặc có vị trí đất ở khu trung tâm có khả năng sinh lợi cao thì giá khởi điểm đấu giá để giao đất có thu tiền SDĐ là giá đất cụ thể do UBND cấp tỉnh quyết định.
Dự thảo cũng quy định cụ thể về các trường hợp miễn, giảm tiền SDĐ, các quy định về thu tiền SDĐ trong các trường hợp: Nhà nước giao đất; chuyển mục đích SDĐ;…/.
Dương An
Dành cho bạn
Đọc thêm
Cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng kinh phí quản lý hành chính
Kho bạc Nhà nước triển khai đồng bộ Nghị quyết Đại hội XIV trong toàn hệ thống
Bộ Tài chính nêu tên nhiều đơn vị chậm kiểm kê tài sản công
Dự trữ quốc gia cần hướng tới nguồn lực chiến lược bảo đảm an ninh kinh tế
TP. Hồ Chí Minh dùng công cụ tài chính để hướng dòng kiều hối đầu tư vào khoa học công nghệ
Bộ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Văn Thắng tiếp Tổng Giám đốc Ngân hàng ICBC Lưu Tuấn


