Áp lực lớn, ngành Tài chính vẫn điều hành chính sách tài khóa linh hoạt, hiệu quả

Trả lời phỏng vấn TBTCVN, đại biểu Quốc hội (ĐBQH) Trần Hoàng Ngân đánh giá cao kết quả đạt được trong thời gian qua của ngành Tài chính. Ông cho rằng, trong bối cảnh áp lực đối với ngành Tài chính là rất lớn, nhưng Bộ Tài chính đã điều hành chính sách tài khóa linh hoạt, hiệu quả, có dư địa hỗ trợ cho người dân, doanh nghiệp và nền kinh tế.
aa
Áp lực lớn, ngành Tài chính vẫn điều hành chính sách tài khóa linh hoạt, hiệu quả
Chính sách giảm thuế giá trị gia tăng góp phần kích cầu tiêu dùng nội địa. Ảnh tư liệu

PV: Nghị quyết 43/2022/QH15 với các chính sách đúng đắn, kịp thời và lộ trình bài bản đã mang đến “luồng sinh khí mới” cho kinh tế Việt Nam phục hồi mạnh mẽ trong năm 2022. Ông đánh giá như thế nào về hiệu quả của một chính sách được cho là khởi nguồn cho sự phục hồi ấn tượng?

ĐBQH Trần Hoàng Ngân: Dưới ảnh hưởng nặng nề bởi đại dịch Covid-19, tình hình kinh tế của chúng ta gặp nhiều khó khăn, nhất là doanh nghiệp cũng như người dân.

Thời điểm vào cuối năm 2021, chúng ta cần phải có những giải pháp bên cạnh việc kiểm soát đại dịch. Chính phủ ban hành Nghị quyết số 128/NQ-CP quy định tạm thời "Thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch Covid-19", vừa kiểm soát dịch bệnh đồng thời phải phục hồi kinh tế.

Đầu năm 2022, theo đề nghị của Chính phủ, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết 43/2022/QH15 về chính sách tài khóa, tiền tệ hỗ trợ Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội, nhằm vừa kiểm soát dịch vừa hỗ trợ cho tăng trưởng kinh tế, hỗ trợ cho người dân.

Đánh giá lại quá trình thực hiện Nghị quyết 43/2022/QH15 trong 2 năm 2022 - 2023 cho đến nay, đã có thành công nhất định.

Chính sách tài khóa linh hoạt, hiệu quả

Đại biểu Trần Hoàng Ngân cho rằng, trong bối cảnh không thuận lợi, ngành Tài chính đã cân đối được các khoản chi, chi đầu tư phát triển tăng cao, vừa lo miễn giảm thuế phí nên áp lực đối với ngành Tài chính là rất lớn. Trong bối cảnh khó khăn đó, Chính phủ, Bộ Tài chính đã điều hành chính sách tài khóa linh hoạt, hiệu quả. Thu ngân sách vẫn đạt và vượt dự toán đề ra. Nợ công giảm mạnh...

Chúng ta kiểm soát rất tốt dịch bệnh và phục hồi tăng trưởng kinh tế. Nếu như năm 2021, kinh tế chỉ tăng trưởng 2,6% thì năm 2022 tăng trưởng 8,02% và 2023 đạt 5,05%. Quý I/2024, GDP đạt 5,66%. So với tốc độ tăng trưởng bình quân thế giới chỉ 3%, chúng ta đạt mức khá, đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô.

Gói thứ 3 mà tôi nghĩ cần phải tiếp tục là hỗ trợ vốn cho Ngân hàng Chính sách xã hội để có nguồn vốn cho vay hỗ trợ việc làm, giúp cho học sinh, sinh viên mua sắm thiết bị máy vi tính học tập; hỗ trợ vay vốn nhà ở xã hội… Gói này cần tiếp tục triển khai hỗ trợ cho đối tượng yếu thế trong xã hội, góp phần giảm nghèo bền vững.

Chính sách tiền tệ, mục tiêu kéo giảm lãi suất, cơ cấu lại nợ… đã thực hiện được. Nhưng giải pháp hỗ trợ lãi suất 2% không đạt mục tiêu, đạt 3,05% kế hoạch. Đây là tồn tại, bài học cần phải rút ra khi thực hiện Nghị quyết 43/2022/QH15.

Gói đầu tư đầu tư công khoảng 176.000 tỷ đồng, triển khai được cho trên 55 địa phương, trên 200 dự án đầu tư. Chúng ta đang tiếp tục nỗ lực để đưa các dự án đầu tư đó đi vào hoạt động, góp phần làm giảm chi phí logistics; hoàn thiện hạ tầng kết cấu hạ tầng giao thông.

Một số chỉ tiêu không đạt mong đợi như Quỹ dịch vụ viễn thông, Quỹ hỗ trợ phát triển du lịch… hầu như không triển khai được, cần phải đúc kết để rút bài học kinh nghiệm.

PV: Gói hỗ trợ về tài khóa cũng đã làm nên những thành công nhất định khi triển khai Nghị quyết 43/2022/QH15. Hỗ trợ về thuế là cần thiết, nhưng có nhiều ý kiến cho rằng, doanh nghiệp cũng rất cần vốn, cần một môi trường kinh doanh thuận lợi với thể chế “dọn đường cho phát triển”. Ông nhận xét gì về điều này?

Áp lực lớn, ngành Tài chính vẫn điều hành chính sách tài khóa linh hoạt, hiệu quả

ĐBQH Trần Hoàng Ngân: Như chúng ta thấy, bên cạnh những kết quả đạt được đáng trân quý thì chúng ta còn một số tồn tại, nhất là tình hình doanh nghiệp của Việt Nam hiện nay đang còn gặp nhiều khó khăn. Số lượng doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường tăng tới 20%. Cho nên phải có những chính sách đồng bộ hỗ trợ cho doanh nghiệp.

Điều mà doanh nghiệp cần nhất chính là một thể chế, một môi trường thuận lợi, tạo ra sự cạnh tranh công bằng. Khi đó các thủ tục pháp lý phải nhanh chóng và nhẹ nhàng.

Cùng với đó, doanh nghiệp cần thêm hỗ trợ về thuế, phí như miễn, giảm, giãn, hoãn một số khoản thuế, phí và tiền thuê đất. Điều này chúng ta có thể làm được bởi những năm qua, mặc dù khó khăn nhưng nguồn thu ngân sách vẫn tăng; nợ công giảm xuống còn 37% GDP.

Chúng ta còn dư địa tiếp tục dùng đòn bẩy chính sách tài khoá hỗ trợ doanh nghiệp phục hồi phát triển tốt hơn. Khi doanh nghiệp phục hồi thì sẽ có công ăn việc làm cho người dân.

PV: Trong bối cảnh không thuận lợi, ngành Tài chính liên tục thực hiện các gói tài khóa hỗ trợ, trung bình khoảng 200 nghìn tỷ đồng/năm. Trong các bài phát biểu của mình, ông đã rất chia sẻ, thấu hiểu khi ngành Tài chính vừa duy trì chính sách tài khóa mở rộng, vừa đảm bảo thu ngân sách đạt dự toán, có dư địa hỗ trợ doanh nghiệp và đầu tư phát triển?

ĐBQH Trần Hoàng Ngân: Đúng là như vậy, trong bối cảnh không thuận lợi, ngành Tài chính đã cân đối được các khoản chi, chi đầu tư phát triển tăng cao, vừa lo miễn giảm thuế, phí nên áp lực đối với ngành Tài chính là rất lớn. Trong bối cảnh cực kỳ khó khăn đó, Chính phủ, Bộ Tài chính đã điều hành chính sách tài khóa linh hoạt, hiệu quả. Thu ngân sách vẫn đạt và vượt dự toán đề ra. Nợ công giảm mạnh. Nợ công của Việt Nam năm 2023 vẫn ở mức bền vững, ổn định. Quy mô nợ công đến cuối năm 2023 khoảng 37% GDP, thấp hơn nhiều so với mức trần 60% Quốc hội đề ra. Nợ Chính phủ khoảng 34% GDP, thấp hơn nhiều so với trần 50%.

Việt Nam được đánh giá là một trong số quốc gia nợ công giảm. Tổ chức Fitch nâng hệ số tín nhiệm quốc gia của Việt Nam trên cơ sở ghi nhận triển vọng tăng trưởng thuận lợi trong trung hạn, được củng cố bởi dòng vốn đầu tư nước ngoài mạnh mẽ. Đây là yếu tố quan trọng và là dư địa thực hiện các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp và người dân, cho dù chúng ta có thể chấp nhận mức bội chi cao hơn.

PV: Xin cảm ơn đại biểu!

Tập trung 3 động lực và 3 khâu đột phá

Đánh giá những thách thức trong thời gian tới, đại biểu Trần Hoàng Ngân cho rằng, bối cảnh kinh tế thế giới thời gian qua không thuận lợi, thậm chí bất lợi đối với nền kinh tế có độ mở như Việt Nam. Tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2023 của kinh tế thế giới bình quân khoảng 3,8%, nhưng thực tế chỉ đạt khoảng 3%, có tổ chức đánh giá 2,7%. Dự báo tăng trưởng kinh tế thế giới trong năm 2024 cũng không mấy sáng sủa.

"Với nền kinh tế có độ mở như Việt Nam, chúng ta phải tương thích với bất ổn, khó lường, khó dự báo. Nói như vậy để thấy kết quả đạt được năm 2023 là 5,05%, thấp hơn 2022 là 8,02% nhưng so với bối cảnh chung là đáng khích lệ. Tính bình quân 3 năm tăng 5,22% cho thấy Việt Nam là một trong những nước có tăng trưởng khá, nhưng so với mục tiêu đề ra cho cả giai đoạn 2021 - 2025 (6,5 - 7%) thì đòi hỏi phải nỗ lực nhiều hơn nữa" - đại biểu Trần Hoàng Ngân nói.

Cũng theo ĐBQH Trần Hoàng Ngân, Việt Nam đến nay vẫn giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát được lạm phát nhưng đã có dấu hiệu cảnh báo, như: tỷ giá tăng, lạm phát cao hơn so với bình quân các năm trước, cần phải tăng cường kiểm soát và có phương án, kịch bản ứng phó phù hợp.

Chính phủ cần tiếp tục tập trung 3 động lực và 3 khâu đột phá. 3 động lực đó là: xuất khẩu; đầu tư; tiêu dùng. 3 đột phá đó là: thể chế; hạ tầng và nguồn nhân lực. Ngoài ra, cần tiếp tục ưu tiên thúc đẩy tăng trưởng, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế; đẩy nhanh tiến độ phê duyệt các quy hoạch và giải ngân vốn đầu tư công.

Minh Anh

Đọc thêm

Chính sách thuế mới tạo đà cho hộ kinh doanh phát triển bền vững

Chính sách thuế mới tạo đà cho hộ kinh doanh phát triển bền vững

TS. Phan Phương Nam - Phó Trưởng khoa Luật Thương mại (Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh) nhấn mạnh, công tác tuyên truyền, hỗ trợ cần được chú trọng, để chính sách thuế đối với hộ kinh doanh phát huy tối đa hiệu quả quản lý nhà nước, đồng thời tạo đà phát triển bền vững cho khu vực kinh tế cá thể.
Giảm thuế nhập khẩu xăng dầu về 0%: Hỗ trợ kịp thời, nhưng cần thêm “bộ đệm” chính sách

Giảm thuế nhập khẩu xăng dầu về 0%: Hỗ trợ kịp thời, nhưng cần thêm “bộ đệm” chính sách

Theo PGS.TS Ngô Trí Long (Hiệp hội Tư vấn tài chính Việt Nam), việc giảm thuế nhập khẩu xăng dầu về 0% đến hết tháng 4/2026 là một giải pháp tài khóa đúng lúc, hợp lý và có tác dụng giảm áp lực, nhưng để ổn định thị trường một cách bền vững, thì vẫn phải đi cùng các công cụ khác, chứ không thể dựa riêng vào giảm thuế.
Chính sách tài khóa tiếp tục tạo động lực cho tăng trưởng bền vững

Chính sách tài khóa tiếp tục tạo động lực cho tăng trưởng bền vững

ThS. Lê Thị Mai Liên - Trưởng ban Kinh tế vĩ mô và dự báo, Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính (Bộ Tài chính) cho rằng, cần phối hợp đồng bộ các động lực, để nền kinh tế có thêm dư địa thúc đẩy tăng trưởng nhanh và bền vững trong thời gian tới.
Tăng “sức đề kháng” chuỗi cung ứng trước biến động địa chính trị Trung Đông

Tăng “sức đề kháng” chuỗi cung ứng trước biến động địa chính trị Trung Đông

Trả lời phóng viên, TS. Nguyễn Sơn - Giảng viên ngành quản lý chuỗi cung ứng và logistics, Đại học RMIT Việt Nam cho rằng, rủi ro địa chính trị tại Trung Đông đang tác động tới thương mại và vận tải quốc tế. Việc tăng “sức đề kháng” chuỗi cung ứng sẽ là yếu tố then chốt giúp doanh nghiệp Việt Nam duy trì lợi thế cạnh tranh trong bối cảnh bất ổn toàn cầu.
Chứng khoán Việt có điểm tựa từ nền tảng vĩ mô và triển vọng nâng hạng

Chứng khoán Việt có điểm tựa từ nền tảng vĩ mô và triển vọng nâng hạng

Theo ông Đinh Quang Hinh - Trưởng bộ phận Vĩ mô và Chiến lược Thị trường, Công ty Chứng khoán VNDIRECT, căng thẳng tại Trung Đông và đà tăng mạnh của giá dầu đã tác động tới tâm lý nhà đầu tư trên thị trường tài chính. Tuy vậy, nền tảng kinh tế ổn định, dư địa chính sách và triển vọng nâng hạng vẫn được kỳ vọng giúp chứng khoán Việt Nam duy trì sự cân bằng trước các biến động bên ngoài.
Biến động Trung Đông và bài toán ứng phó của doanh nghiệp logistics

Biến động Trung Đông và bài toán ứng phó của doanh nghiệp logistics

Ông Phạm Quang Long - Giám đốc kinh doanh và phát triển thị trường, Công ty Allied Movers tại Việt Nam cho rằng, xung đột tại Trung Đông tác động tới vận tải biển và hàng không quốc tế, làm gia tăng chi phí và rủi ro logistics. Theo đó, Việt Nam cần củng cố hạ tầng và năng lực logistics để tận dụng cơ hội trong cấu trúc thương mại mới. Về phía doanh nghiệp, cần chủ động thích ứng và có chiến lược kinh doanh phù hợp.
Chủ động xây dựng kịch bản ứng phó với tác động từ xung đột tại Trung Đông

Chủ động xây dựng kịch bản ứng phó với tác động từ xung đột tại Trung Đông

Theo TS. Nguyễn Sơn - giảng viên ngành quản lý chuỗi cung ứng và logistics, Đại học RMIT Việt Nam, để giảm thiểu tác động từ xung đột tại Trung Đông, doanh nghiệp Việt cần chủ động rà soát hợp đồng quốc tế, đa dạng hóa nguồn cung nguyên liệu, điều chỉnh chiến lược logistics và xây dựng kịch bản ứng phó nếu xung đột kéo dài.
Dự báo diễn biến giá vàng khi xung đột Trung Đông “dậy sóng”

Dự báo diễn biến giá vàng khi xung đột Trung Đông “dậy sóng”

Xung đột tại Trung Đông đang khiến thị trường tài chính toàn cầu biến động mạnh, trong đó, vàng tiếp tục là tâm điểm chú ý của nhà đầu tư. TS. Lê Bá Chí Nhân - chuyên gia kinh tế cao cấp cho rằng, biến động quốc tế ngày càng lớn, nếu thiếu cơ chế giao dịch minh bạch, rủi ro đầu cơ và chênh lệch giá vàng sẽ lặp lại. Vì vậy, cần sớm hình thành sàn giao dịch vàng quốc gia và mở rộng nguồn cung theo lộ trình có kiểm soát.
Xem thêm