Bán tín chỉ các-bon: Kênh mới về huy động tài chính ngoài ngân sách

Khánh Linh
Giao dịch và chuyển nhượng tín chỉ các-bon là tín hiệu tích cực thể hiện sự chủ động thích ứng của Việt Nam trong việc thực hiện các cam kết quốc tế về giảm phát thải ròng bằng 0; đồng thời huy động được nguồn tài chính ngoài ngân sách để hỗ trợ công tác bảo vệ và phát triển rừng trong thời gian sắp tới. Ông Trần Quang Bảo - Cục trưởng Cục Lâm nghiệp (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn - NN&PTNT) đã cho biết như vậy, khi trao đổi với phóng viên TBTCVN.
aa
Bán tín chỉ các-bon: Kênh mới về huy động tài chính ngoài ngân sách
Bán tín chỉ các-bon là kênh huy động tài chính ngoài ngân sách hiệu quả. Ảnh minh họa.

PV: Ông có thể chia sẻ cụ thể kết quả của việc giao dịch mua bán tín chỉ các-bon mà Việt Nam đã triển khai đến thời điểm này?

Ông Trần Quang Bảo: Thực hiện các cam kết của Chính phủ về giảm phát thải ròng bằng 0 vào năm 2030 và năm 2050, ngành lâm nghiệp đã tích cực chủ động tham mưu cho Chính phủ tham gia các sáng kiến quốc tế và chương trình giảm phát thải nhằm chống suy thoái rừng và bảo vệ rừng. Thực hiện các sáng kiến đó, hiện nay các khu vực có tiềm năng về phục hồi rừng cũng như nâng cao trữ lượng các-bon của rừng đã xây dựng, triển khai các thỏa thuận và đàm phán để chuyển giao các tín chỉ các-bon rừng.

Tháng 10/2020, Việt Nam đã ký kết Thỏa thuận chi trả giảm phát thải (ERPA) 6 tỉnh vùng Bắc Trung Bộ với Ngân hàng thế giới (WB). Theo ERPA, Việt Nam sẽ chuyển cho WB 10,3 triệu tấn, với giá 5 USD/tấn và 95% lượng này sẽ được tính đóng góp NDC (đóng góp do quốc gia tự quyết định).

Bán tín chỉ các-bon: Kênh mới về huy động tài chính ngoài ngân sách
Ông Trần Quang Bảo

Đến nay, các thủ tục về pháp lý, công tác chuẩn bị đã sẵn sàng và WB đã chuyển cho Việt Nam 80% tổng kinh phí, tương đương 41,2 triệu USD. Số tiền này sẽ được chuyển giao cho các địa phương trong tháng 9 và các địa phương đang mở tài khoản tiếp nhận và xây dựng chia sẻ lợi ích theo đúng nghị định về thí điểm thỏa thuận quản lý tài chính và sử dụng kết quả giảm khí thải.

Phần lớn phí sẽ được trả cho các chủ rừng, đặc biệt cộng đồng tham gia bảo vệ phát triển rừng, hỗ trợ sinh kế theo đúng cam kết thỏa thuận đàm phán.

Đối với vùng Nam Trung Bộ và Tây Nguyên, tại Hội nghị lần thứ 26 các bên tham gia Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu năm 2021, dưới sự chứng kiến của Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ NN&PTNT và Giám đốc Tổ chức Emergent - cơ quan quản lý hành chính của LEAF (tổ chức được thành lập nhằm hỗ trợ tài chính để chống suy thoái rừng, mất rừng) đã ký Ý định thư về giảm phát thải.

Đây là căn cứ để hai bên đàm phán, ký kết và thực hiện Thỏa thuận mua bán giảm phát thải từ rừng cho 11 tỉnh vùng Nam Trung Bộ và Tây Nguyên (ERPA).

Theo Ý định thư này, Việt Nam dự kiến sẽ chuyển nhượng cho LEAF/Emergent 5,15 triệu tấn CO2 giảm phát thải từ rừng tại vùng Nam Trung Bộ và Tây Nguyên giai đoạn 2022 - 2026 với giá tối thiểu là 10 USD/1 tấn CO2tđ (tương đương). Toàn bộ lượng tín chỉ chuyển nhượng cho LEAF sẽ được tính vào cam kết đóng góp giảm phát thải của Việt Nam.

Việt Nam đặt mục tiêu đến năm 2030, giảm 15,8% lượng phát thải

Thực hiện cam kết giảm phát thải, Việt Nam đặt mục tiêu đến năm 2030, giảm 15,8% lượng phát thải (146 triệu tấn CO2) bằng nguồn lực quốc gia và giảm 43,5% lượng phát thải (403 triệu tấn CO2) khi có hỗ trợ quốc tế.

Hiện nay, Bộ NN&PTNT đã tiến hành các bước đàm phán kỹ thuật, ký kết nghị định thư và tại thời điểm hiện tại các nhà tài trợ cùng các tổ chức quốc tế đã tiến hành sang Việt Nam để tổ chức hội thảo và tiến hành tham vấn thực tế tại các địa bàn Nam Trung Bộ, Tây Nguyên. Sau đó các bên sẽ tiến tới đàm phán chính thức để chuyển giao và dự kiến Việt Nam sẽ chuyển nhượng cho Tổ chức LEAF/Emergent theo thỏa thuận.

PV: Như vậy, tính đến thời điểm hiện nay, Việt Nam đã và đang ký kết, giao dịch hơn 15 triệu tấn tín chỉ các-bon, thưa ông?

Ông Trần Quang Bảo: Hiện nay đối với thỏa thuận Bắc Trung bộ, Nam Trung bộ và Tây nguyên thì các tổ chức đàm phán quốc tế trong giai đoạn ký kết thường ước tính con số với giai đoạn tham chiếu kịch bản phát thải trước đó.

Tuy nhiên, qua tính toán ví dụ ở khu vực Bắc Trung bộ dự kiến sẽ chuyển giao lượng phát thải 10 triệu tấn trong 3 giai đoạn nhưng giai đoạn đầu 2018 - 2019 lượng phát thải đã vượt qua lượng này, như vậy sẽ có các lượng phát thải dư thừa. Tương tự, Nam Trung bộ, Tây Nguyên theo ký kết khoảng 5,15 triệu tấn, nhưng sau khi có báo cáo kiểm toán độc lập của các tổ chức quốc tế, dự kiến sẽ có lượng dư thừa.

Lượng dư thừa đó sẽ được Bộ NN&PTNT báo cáo chi tiết với Thủ tướng Chính phủ để đàm phán chuyển giao khí phát thải đảm bảo quyền lợi tối đa cho Việt Nam và thực hiện các cam kết về đóng góp giảm phát thải.

PV: Xin trân trọng cảm ơn ông!

Khánh Linh

Đọc thêm

Chính sách thuế mới tạo đà cho hộ kinh doanh phát triển bền vững

Chính sách thuế mới tạo đà cho hộ kinh doanh phát triển bền vững

TS. Phan Phương Nam - Phó Trưởng khoa Luật Thương mại (Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh) nhấn mạnh, công tác tuyên truyền, hỗ trợ cần được chú trọng, để chính sách thuế đối với hộ kinh doanh phát huy tối đa hiệu quả quản lý nhà nước, đồng thời tạo đà phát triển bền vững cho khu vực kinh tế cá thể.
Giảm thuế nhập khẩu xăng dầu về 0%: Hỗ trợ kịp thời, nhưng cần thêm “bộ đệm” chính sách

Giảm thuế nhập khẩu xăng dầu về 0%: Hỗ trợ kịp thời, nhưng cần thêm “bộ đệm” chính sách

Theo PGS.TS Ngô Trí Long (Hiệp hội Tư vấn tài chính Việt Nam), việc giảm thuế nhập khẩu xăng dầu về 0% đến hết tháng 4/2026 là một giải pháp tài khóa đúng lúc, hợp lý và có tác dụng giảm áp lực, nhưng để ổn định thị trường một cách bền vững, thì vẫn phải đi cùng các công cụ khác, chứ không thể dựa riêng vào giảm thuế.
Chính sách tài khóa tiếp tục tạo động lực cho tăng trưởng bền vững

Chính sách tài khóa tiếp tục tạo động lực cho tăng trưởng bền vững

ThS. Lê Thị Mai Liên - Trưởng ban Kinh tế vĩ mô và dự báo, Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính (Bộ Tài chính) cho rằng, cần phối hợp đồng bộ các động lực, để nền kinh tế có thêm dư địa thúc đẩy tăng trưởng nhanh và bền vững trong thời gian tới.
Tăng “sức đề kháng” chuỗi cung ứng trước biến động địa chính trị Trung Đông

Tăng “sức đề kháng” chuỗi cung ứng trước biến động địa chính trị Trung Đông

Trả lời phóng viên, TS. Nguyễn Sơn - Giảng viên ngành quản lý chuỗi cung ứng và logistics, Đại học RMIT Việt Nam cho rằng, rủi ro địa chính trị tại Trung Đông đang tác động tới thương mại và vận tải quốc tế. Việc tăng “sức đề kháng” chuỗi cung ứng sẽ là yếu tố then chốt giúp doanh nghiệp Việt Nam duy trì lợi thế cạnh tranh trong bối cảnh bất ổn toàn cầu.
Chứng khoán Việt có điểm tựa từ nền tảng vĩ mô và triển vọng nâng hạng

Chứng khoán Việt có điểm tựa từ nền tảng vĩ mô và triển vọng nâng hạng

Theo ông Đinh Quang Hinh - Trưởng bộ phận Vĩ mô và Chiến lược Thị trường, Công ty Chứng khoán VNDIRECT, căng thẳng tại Trung Đông và đà tăng mạnh của giá dầu đã tác động tới tâm lý nhà đầu tư trên thị trường tài chính. Tuy vậy, nền tảng kinh tế ổn định, dư địa chính sách và triển vọng nâng hạng vẫn được kỳ vọng giúp chứng khoán Việt Nam duy trì sự cân bằng trước các biến động bên ngoài.
Biến động Trung Đông và bài toán ứng phó của doanh nghiệp logistics

Biến động Trung Đông và bài toán ứng phó của doanh nghiệp logistics

Ông Phạm Quang Long - Giám đốc kinh doanh và phát triển thị trường, Công ty Allied Movers tại Việt Nam cho rằng, xung đột tại Trung Đông tác động tới vận tải biển và hàng không quốc tế, làm gia tăng chi phí và rủi ro logistics. Theo đó, Việt Nam cần củng cố hạ tầng và năng lực logistics để tận dụng cơ hội trong cấu trúc thương mại mới. Về phía doanh nghiệp, cần chủ động thích ứng và có chiến lược kinh doanh phù hợp.
Chủ động xây dựng kịch bản ứng phó với tác động từ xung đột tại Trung Đông

Chủ động xây dựng kịch bản ứng phó với tác động từ xung đột tại Trung Đông

Theo TS. Nguyễn Sơn - giảng viên ngành quản lý chuỗi cung ứng và logistics, Đại học RMIT Việt Nam, để giảm thiểu tác động từ xung đột tại Trung Đông, doanh nghiệp Việt cần chủ động rà soát hợp đồng quốc tế, đa dạng hóa nguồn cung nguyên liệu, điều chỉnh chiến lược logistics và xây dựng kịch bản ứng phó nếu xung đột kéo dài.
Dự báo diễn biến giá vàng khi xung đột Trung Đông “dậy sóng”

Dự báo diễn biến giá vàng khi xung đột Trung Đông “dậy sóng”

Xung đột tại Trung Đông đang khiến thị trường tài chính toàn cầu biến động mạnh, trong đó, vàng tiếp tục là tâm điểm chú ý của nhà đầu tư. TS. Lê Bá Chí Nhân - chuyên gia kinh tế cao cấp cho rằng, biến động quốc tế ngày càng lớn, nếu thiếu cơ chế giao dịch minh bạch, rủi ro đầu cơ và chênh lệch giá vàng sẽ lặp lại. Vì vậy, cần sớm hình thành sàn giao dịch vàng quốc gia và mở rộng nguồn cung theo lộ trình có kiểm soát.
Xem thêm