Bất ổn địa chính trị tại Trung Đông: “Phép thử” với doanh nghiệp Việt xuất khẩu sang thị trường Halal

Luyện Vũ
PGS.TS Đinh Công Hoàng - nghiên cứu viên cao cấp, Trưởng phòng Nghiên cứu Trung Đông và Tây Á, Viện Nghiên cứu Nam Á, Tây Á và châu Phi (Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam) cho rằng, xung đột Iran - Israel - Mỹ đang đặt các doanh nghiệp Việt xuất khẩu sang thị trường Halal trước nhiều rủi ro ngắn hạn. Tuy nhiên, nếu chủ động đa dạng hóa thị trường, củng cố năng lực chứng nhận quốc gia và triển khai công cụ bảo hiểm tín dụng xuất khẩu, Việt Nam có thể biến thách thức thành động lực tái cấu trúc chiến lược dài hạn.
aa

PV: Việt Nam đang đặt mục tiêu tham gia sâu hơn vào thị trường Halal toàn cầu. Theo ông, xung đột Iran - Israel - Mỹ có thể ảnh hưởng như thế nào tới cơ hội xuất khẩu các sản phẩm Halal của doanh nghiệp Việt Nam sang Trung Đông - khu vực chiếm tỷ trọng lớn trong thị trường Halal toàn cầu?

Bất ổn địa chính trị tại Trung Đông: “Phép thử” với doanh nghiệp Việt xuất khẩu sang thị trường Halal
PGS.TS Đinh Công Hoàng

PGS.TS Đinh Công Hoàng: Thị trường Halal toàn cầu đang mở ra một không gian tăng trưởng chiến lược mang tính chu kỳ dài hạn. Theo Báo cáo Tình hình kinh tế Hồi giáo toàn cầu (SGIE) 2024/2025, quy mô chi tiêu cho 6 lĩnh vực cốt lõi đã đạt mức 2,43 nghìn tỷ USD. Động lực này được củng cố bởi sự bùng nổ nhân khẩu học, khi Pew Research dự báo dân số Hồi giáo sẽ đạt 2,2 tỷ người vào năm 2030.

Đối với Việt Nam, dù tổng kim ngạch xuất khẩu 11 tháng năm 2025 sang UAE và Ả Rập Saudi đạt tương ứng 5,4 tỷ USD và 1,9 tỷ USD, nhưng kim ngạch hàng hóa đạt chuẩn Halal sang Trung Đông trong năm 2024 mới chỉ dừng ở mức khiêm tốn gần 700 triệu USD.

Sự leo thang xung đột tại Trung Đông tạo ra một “tác động kép” đối với tiến trình hội nhập này. Ở mặt tiêu cực, sự bất ổn làm đứt gãy chuỗi logistics ngắn hạn và đội thêm chi phí thương mại. Tuy nhiên, từ lăng kính trung lập, rủi ro an ninh lại buộc các quốc gia vùng Vịnh (GCC) - vốn phụ thuộc tới 85% vào thực phẩm nhập khẩu theo dữ liệu của Bộ Nông nghiệp Canada - phải gấp rút tìm kiếm các chuỗi cung ứng thay thế ổn định từ châu Á. Việc Việt Nam kiên định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ đang mang lại “lợi tức hòa bình” lớn, giúp hàng hóa của chúng ta có cơ hội lấp đầy khoảng trống cấu trúc này.

PV: Những rủi ro mà doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu sang thị trường Halal có thể phải đối mặt hiện nay là gì - chi phí logistics, gián đoạn thanh toán hay biến động nhu cầu tiêu dùng tại các quốc gia Hồi giáo, nếu cuộc xung đột Iran - Israel tiếp tục căng thẳng, thưa ông?

PGS.TS Đinh Công Hoàng: Rủi ro lớn nhất trong ngắn hạn đối với doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu sang thị trường Halal là sự đứt gãy logistics và đội chi phí vận tải. Báo cáo Đánh giá Vận tải hàng hải 2024 của Cơ quan Thương mại và Phát triển Liên Hợp quốc (UNCTAD) ghi nhận sự đứt gãy tại vịnh Aden và Biển Đỏ đã khiến dung tải qua kênh đào Suez giảm tới 70%. Điều này buộc các hãng tàu phải định tuyến vòng qua Mũi Hảo Vọng, đẩy giá cước vận tải biển cùng phụ phí rủi ro chiến tranh lên các mốc đỉnh mới.

Thứ hai, sự kéo dài của hải trình trực tiếp đe dọa “tính toàn vẹn Halal” của lô hàng; việc lưu kho lâu ngày gia tăng rủi ro lây nhiễm chéo hoặc suy giảm chất lượng, khiến doanh nghiệp có thể bị tước chứng nhận ngay tại cảng đích.

Thứ ba là rủi ro về cấu trúc thanh toán quốc tế và tuân thủ chế tài. Khi EU dự kiến tái áp đặt các biện pháp trừng phạt tài chính đối với Iran từ cuối tháng 9/2025, các ngân hàng trung gian có xu hướng thực hiện chiến lược “de-risking” (giảm rủi ro), dễ dẫn đến ách tắc dòng tiền hoặc từ chối giao dịch.

Cuối cùng, theo dữ liệu từ Cơ quan Thông tin Năng lượng Hoa Kỳ (EIA), những cú sốc năng lượng tại eo biển Hormuz sẽ tạo lạm phát nhập khẩu, khiến người tiêu dùng tại các quốc gia Hồi giáo thắt chặt chi tiêu đối với các sản phẩm Halal cao cấp, phi thiết yếu.

Bất ổn địa chính trị tại Trung Đông: “Phép thử” với doanh nghiệp Việt xuất khẩu sang thị trường Halal
Nông sản Việt Nam có nhiều cơ hội gia tăng xuất khẩu sang thị trường Halal. Ảnh tư liệu

PV: Từ góc độ chính sách kinh tế, theo ông, Việt Nam cần có những giải pháp gì để giảm thiểu rủi ro thương mại và bảo đảm dòng chảy xuất khẩu sang thị trường Halal trong bối cảnh xung đột kéo dài?

PGS.TS Đinh Công Hoàng: Việc kiến tạo sức chống chịu cho ngành Halal trước các cú sốc ngoại sinh đòi hỏi một hệ thống giải pháp can thiệp vĩ mô đồng bộ từ phía Nhà nước.

Trước tiên, cần tối ưu hóa không gian địa kinh tế bằng việc tận dụng triệt để mạng lưới 17 hiệp định thương mại tự do (FTA) đang thực thi để phân tán rủi ro. Các cơ quan quản lý cần định hướng doanh nghiệp mở rộng thị phần sang các trung tâm tiêu thụ Halal phi Trung Đông có sự ổn định cao hơn như khối ASEAN, khu vực Nam Á và châu Phi và cả các thị trường Halal phi Hồi giáo tiềm năng khác như Hoa Kỳ, châu Âu...

Đâu sẽ là “điểm sáng” của Halal Việt trong giai đoạn hiện nay?

Theo PGS.TS Đinh Công Hoàng, trong bối cảnh rủi ro địa chính trị cao, việc dồn trọng tâm nguồn lực vào các phân ngành có độ co giãn theo giá thấp và sở hữu lợi thế so sánh nội sinh là chiến lược khôn ngoan nhất. Ngành công nghiệp thực phẩm và chế biến nông thủy sản chính là cơ hội vàng tối ưu nhất hiện nay.

Dữ liệu SGIE 2024/2025 chỉ ra, chi tiêu cho thực phẩm Halal chiếm tới 1,43 nghìn tỷ USD; kết hợp với nhu cầu nhập khẩu an ninh lương thực cấp bách của các quốc gia vùng Vịnh trong thời kỳ khủng hoảng, các sản phẩm đạt chuẩn của Việt Nam sẽ thâm nhập thị trường với rào cản rất thấp. Song song đó, phân ngành logistics Halal chuyên biệt nổi lên như một mũi nhọn hỗ trợ chiến lược mang tính quyết định. Đầu tư vào hệ thống cảng, kho lạnh phân lập và truy xuất nguồn gốc số hóa chính là bảo chứng cho “tính toàn vẹn Halal” và độ tin cậy giao hàng.

Ngân hàng Nhà nước và các định chế tài chính cần thúc đẩy sử dụng thư tín dụng có xác nhận (Confirmed L/C) và triển khai các sản phẩm bảo hiểm tín dụng xuất khẩu nhằm bảo vệ hệ thống tài chính của doanh nghiệp trước các rủi ro đứt gãy thanh toán.

Đặc biệt, giải pháp căn cơ là giảm rủi ro kỹ thuật bằng cách “quốc gia hóa” năng lực chứng nhận, phát huy tối đa vai trò của Trung tâm Chứng nhận Halal quốc gia (HALCERT) trực thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ và các trung tâm chứng nhận Halal tư nhân có uy tín. Đồng thời, mặt trận ngoại giao kinh tế cần đẩy mạnh đàm phán các thỏa thuận công nhận lẫn nhau (MRAs) với các đối tác trọng điểm, qua đó cắt giảm tối đa chi phí giao dịch và củng cố vị thế pháp lý của hàng hóa xuất khẩu trong mọi kịch bản biến động.

PV: Thưa ông, xung đột Trung Đông có đặt ra yêu cầu mới đối với chiến lược phát triển ngành Halal quốc gia, đặc biệt trong việc xây dựng chuỗi cung ứng độc lập và hệ thống chứng nhận đạt chuẩn quốc tế? Theo ông, Việt Nam cần điều chỉnh chiến lược phát triển ngành Halal như thế nào để giảm phụ thuộc vào biến động địa chính trị tại Trung Đông?

PGS.TS Đinh Công Hoàng: Biến động địa chính trị hiện tại chính là một lời cảnh tỉnh, buộc chúng ta phải từ bỏ mô hình xuất khẩu thô để tái định hình chiến lược phát triển một hệ sinh thái công nghiệp Halal hoàn chỉnh.

Sự điều chỉnh cốt lõi phải chuyển dịch theo nguyên tắc “đa tuyến - đa chuẩn - đa thị trường” nhằm định hình một chuỗi cung ứng Halal độc lập. Tính độc lập ở đây là thiết lập năng lực cung ứng tự chủ trong nước, nhưng tương thích sâu rộng với các chuẩn mực quốc tế. Nền tảng pháp lý của hệ sinh thái này phải dựa trên sự tuân thủ nghiêm ngặt hệ thống Tiêu chuẩn quốc gia, điển hình như TCVN 12944:2020, nhằm đảm bảo sự phân lập tuyệt đối các yếu tố phi Halal trong toàn chuỗi cung ứng.

Để giảm rủi ro bị chéo chuẩn hoặc từ chối chứng nhận, chiến lược của Việt Nam cần chủ động tham chiếu các bộ tiêu chuẩn của Tổ chức Hợp tác Hồi giáo như OIC/SMIIC hay JAKIM. Ngoài ra, việc đầu tư thiết lập các chương trình đào tạo nguồn nhân lực chuyên sâu ở mọi mắt xích logistics, kiểm nghiệm và quản lý sẽ là chìa khóa đảm bảo sức đề kháng vững chắc trước các lệnh cấm vận hoặc gián đoạn chuỗi cung ứng.

PV: Xin cảm ơn ông!

Luyện Vũ

Đọc thêm

Ngân hàng giữ “sức khỏe” tài sản, bảo đảm an toàn cho hành trình tăng trưởng cao

PGS.TS. Nguyễn Hữu Huân - Khoa Ngân hàng, Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh cho rằng, nợ xấu tăng nhanh hơn tín dụng là tín hiệu cho thấy phải ưu tiên chất lượng tăng trưởng. Kiểm soát tốt chất lượng tài sản, ưu tiên các giải pháp trọng tâm giúp hệ thống ngân hàng có nền tảng lành mạnh hơn để hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng cao những năm tới, mà không tạo ra rủi ro tài chính lớn về sau.

Mở dư địa phát triển, quỹ bảo hiểm hưu trí bổ sung tăng sức hút nhờ “lãi kép”

Trao đổi với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư, bà Lê Vân - Giám đốc Ban Phát triển Kinh doanh Công ty TNHH Quản lý Quỹ Vietcombank (VCBF) nhấn mạnh những thay đổi mang tính định hình lại “luật chơi”, phát triển bảo hiểm hưu trí bổ sung. Trong đó, việc mở rộng danh mục đầu tư có thể giúp quỹ đạt lợi suất ròng dài hạn cạnh tranh hơn, tăng sức hấp dẫn nhờ hiệu ứng “lãi kép” từ đầu tư dài hạn và ưu đãi thuế.

Cơ chế bảo lãnh và tín nhiệm quyết định sức hút của trái phiếu PPP

Theo ông Nguyễn Quang Thuân - Chủ tịch FiinGroup và FiinRatings, cơ chế bảo lãnh thanh toán cùng hoạt động xếp hạng tín nhiệm đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao sức hấp dẫn của trái phiếu PPP đối với các nhà đầu tư dài hạn.

Việt Nam thịnh vượng và mạnh mẽ sẽ mang lại lợi ích to lớn cho Singapore

Nhân dịp Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm thăm cấp nhà nước tới Singapore vào ngày 29/5/2026, Đại sứ Singapore tại Việt Nam - ông Rajpal Singh đã có cuộc trả lời phỏng vấn báo Tài chính - Đầu tư về quan hệ hợp tác hai nước. Theo Đại sứ thì một Việt Nam mạnh mẽ và thịnh vượng sẽ mang lại lợi ích to lớn cho Singapore, ASEAN và cộng đồng quốc tế.

Nâng chất lượng hàng hóa để đón dòng vốn ngoại hậu nâng hạng

Việc nâng hạng thị trường không chỉ mang ý nghĩa thu hút dòng vốn quốc tế mà còn đặt ra yêu cầu cải thiện chất lượng hàng hóa trên thị trường chứng khoán. Theo ông Lương Duy Phước - Giám đốc Phân tích Công ty cổ phần Chứng khoán Kafi đẩy mạnh thoái vốn nhà nước, gia tăng tỷ lệ cổ phiếu tự do chuyển nhượng và nâng cao tính minh bạch sẽ là những yếu tố then chốt giúp thị trường tận dụng hiệu quả cơ hội từ quá trình nâng hạng.

Thu hút FDI xanh và công nghệ cao, tạo đà tăng trưởng bền vững

Trao đổi với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư, TS. Trần Toàn Thắng - Trưởng ban Ban Quốc tế và chính sách hội nhập, Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính (Bộ Tài chính) nhấn mạnh, Việt Nam cần thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào công nghệ cao, dự án xanh, để tạo đà cho tăng trưởng bền vững trong thời gian tới.

Doanh nghiệp hạ tầng bước vào cuộc đua năng lực và sức khỏe tài chính

Theo ông Tyler Nguyễn Mạnh Dũng - Giám đốc Cấp cao Nghiên cứu Chiến lược Thị trường tại HSC, chu kỳ đẩy mạnh đầu tư công và phát triển hạ tầng đang mở ra dư địa tăng trưởng lớn cho nhiều doanh nghiệp. Tuy nhiên, áp lực huy động vốn dài hạn cùng yêu cầu cao hơn về năng lực thi công, quản trị và sức khỏe tài chính đang khiến thị trường hạ tầng bước vào giai đoạn phân hóa mạnh.

Khung pháp lý trái phiếu PPP: Cần hướng tới xây dựng một lớp tài sản hạ tầng dài hạn, tin cậy

Theo TS. Nguyễn Kinh Luân - Thành viên Hội đồng Quản trị - Phó Tổng giám đốc Đầu tư và Phát triển thị trường quốc tế, Tập đoàn Xây dựng Hòa Bình, khung pháp lý cho trái phiếu PPP cần hướng tới xây dựng một lớp tài sản hạ tầng dài hạn, minh bạch và đáng tin cậy trên thị trường vốn Việt Nam.
Xem thêm