Cần hợp lý hóa và cải thiện tính minh bạch của các biện pháp phi thuế quan

Hiện mức ảnh hưởng chi phí của các biện pháp phi thuế quan của Việt Nam cao hơn hầu hết các nước ASEAN
Thuế giảm nhưng các biện pháp phi thuế quan tăng
Ông Phạm Minh Đức, chuyên gia kinh tế cao cấp của WB Việt Nam cho biết, mặc dù thuế quan đang giảm nhanh nhưng số lượng các biện pháp phi thuế quan lại đang tăng lên. Mức thuế ưu đãi bình quân của Việt Nam đã giảm từ 13,1% năm 2003 xuống còn 6,3% năm 2015. Ngược lại, số lượng các biện pháp phi thuế quan lại tăng đến trên 20 lần trong cùng kỳ. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy các biện pháp phi thuế quan, nếu được thiết kế và triển khai không tốt, có thể gây hạn chế thương mại, làm méo mó giá cả và suy yếu năng lực cạnh tranh quốc gia…
Tác động chi phí của biện pháp phi thuế quan có thể được ước lượng giống như tác động của biện pháp thuế quan và giá trị của nó có thể được tính bằng bằng chỉ số thuế quan trị giá tương đương (AVE). Theo ông Đức, nghiên cứu của WB chỉ ra rằng, mức ảnh hưởng chi phí của các biện pháp phi thuế quan của Việt Nam cao hơn hầu hết các nước ASEAN. Cadot và Ing (2018) đã áp dụng phương pháp tính AVE mới cho các nước ASEAN cho thấy giá trị AVE trung bình của các rào cản kỹ thuật cho thương mại các nước ASEAN là 4,34% và giá trị AVE trung bình của các biện pháp kiểm dịch động thực vật (SPS) là 8,36% so với AVE trung bình của các biện pháp SPS và hàng rào kỹ thuật trong thương mại của Việt Nam lần lượt là 5,4% và 16,6 %.
Bên cạnh đó, hệ thống các biện pháp phi thuế quan của Việt Nam hiện nay rất phức tạp. So sánh hệ thống của Việt Nam với một số nước sử dụng dữ liệu của của các Cổng thông tin thương mại được thiết lập với sự hỗ trợ của WB thì thấy, số lượng văn bản quy định (1056 văn bản), số các thủ tục hướng dẫn thực hiện (398 thủ tục) và số các biểu mẫu quy định thông tin cần thiết (397 biểu mẫu) cao hơn rất nhiều so với các nước so sánh. Quy trình thực thi chồng chéo, thiếu phối hợp giữa các cơ quan liên quan. Thủ tục để tuân thủ các biện pháp quản lý nhà nước về các hoạt động xuất nhập khẩu còn hết sức phức tạp cho thấy sự chồng chéo về các bước thực hiện sự tuân thủ đối với từng mặt hàng xuất nhập khẩu để đáp ứng nhiều quy định do nhiều cơ quan khác nhau ban hành.
Ví dụ, đối với sữa nhập khẩu, quy trình trước thông quan đòi hỏi doanh nghiệp phải hoàn thành thủ tục chồng chéo giữa ba bộ: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Y tế và Bộ Công thương liên quan đến kiểm dịch và kiểm tra an toàn thực phẩm… Đây là nguyên nhân chính dẫn đến chi phí thương mại còn cao, điều kiện tạo thuận lợi thương mại và môi trường kinh doanh còn hạn chế tại Việt Nam.
Hợp tác liên ngành là tối quan trọng
Đề xuất các cải cách chính nhằm đơn giản hóa và minh bạch hóa các biện pháp phi thuế quan, ông Phạm Minh Đức cho rằng, cần hợp lý hóa và cải thiện tính minh bạch của các biện pháp phi thuế quan thông qua việc tái thiết kế, đơn giản hóa quy trình nghiệp vụ. Theo ông Đức, mặc dù nỗ lực đáng kể để giảm thiểu và đơn giản hóa các yêu cầu quy định về kiểm tra chuyên ngành, kết quả hiện tại không được như mong đợi. Việt Nam nên bắt tay vào một chương trình cải cách sâu hơn bằng cách học hỏi kinh nghiệm quốc tế để thiết lập một quy trình chuẩn. Qua đó xem xét và áp dụng phân tích lợi ích chi phí được thực hiện bởi các cơ quan khách quan và có năng lực, để loại bỏ những thiếu sót do thiếu năng lực hoặc lợi ích riêng của các cơ quan quản lý trực tiếp các biện pháp phi thuế quan.
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, điều kiện tiên quyết để tự động hóa hiệu quả các quy trình nghiệp vụ thông qua cơ chế một cửa quốc gia là tái thiết kế các quy trình phức tạp để thực thi và tuân thủ, hướng tới đơn giản hóa và đồng bộ hóa giữa hải quan và các cơ quan ban hành và thực thi các biện pháp quản lý phi thuế quan.
Ông Đức đặc biệt nhấn mạnh việc áp dụng quản lý rủi ro với các cơ quan quản lý các biện pháp phi thuế quan. Quản lý rủi ro giúp cơ quan quản lý phi thuế quan nâng cao hiệu quả quản lý bằng cách tập trung nguồn lực vào các giao dịch rủi ro nhất, vừa tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp có lịch sử tuân thủ tốt. Ông Đức cho rằng, tại Việt Nam, cơ quan hải quan đã đạt được những tiến bộ nhất định về áp dụng phương pháp và công nghệ quản lý rủi ro, trong khi các cơ quan quản lý khác liên quan đến các biện pháp phi thuế quan vẫn còn một khoảng cách để hiện đại hóa. Do đó, sự hợp tác liên ngành là tối quan trọng, đặc biệt là trong việc chia sẻ dữ liệu phân tích dựa trên rủi ro từ cơ quan hải quan.
Bên cạnh đó, cần tăng cường phối hợp liên ngành. Theo ông Đức, trên hết, cơ chế phối hợp liên ngành là rất quan trọng. Việc thành lập Ủy ban chỉ đạo quốc gia về Cơ chế một cửa ASEAN, Cơ chế một cửa quốc gia và tạo thuận lợi thương mại là một khởi đầu tốt. Nhưng, bước tiếp theo cần phải đảm bảo một bộ máy giúp việc được trao đủ quyền và có kiến thức chuyên môn cần thiết để hỗ trợ ủy ban thực hiện chỉ đạo liên ngành và giám sát việc thực hiện chương trình cải cách các biện pháp phi thuế quan. Ủy ban và bộ máy giúp việc chịu trách nhiệm xây dựng quy chế phối hợp giữa các cơ quan liên quan trong việc cập nhật thường xuyên “Cổng thông tin thương mại Việt Nam” và giám sát việc thực thi của sự phối hợp này.
Hà My
Dành cho bạn
Đọc thêm
Cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng kinh phí quản lý hành chính
Kho bạc Nhà nước triển khai đồng bộ Nghị quyết Đại hội XIV trong toàn hệ thống
Bộ Tài chính nêu tên nhiều đơn vị chậm kiểm kê tài sản công
Dự trữ quốc gia cần hướng tới nguồn lực chiến lược bảo đảm an ninh kinh tế
TP. Hồ Chí Minh dùng công cụ tài chính để hướng dòng kiều hối đầu tư vào khoa học công nghệ
Bộ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Văn Thắng tiếp Tổng Giám đốc Ngân hàng ICBC Lưu Tuấn


