Chính sách thuế hỗ trợ hiệu quả mục tiêu tăng trưởng

Đức Việt
TS. Nguyễn Đình Chiến - Phó Trưởng khoa Thuế và Hải quan (Học viện Tài chính) đánh giá, các chính sách hỗ trợ thuế, phí thời gian qua đã tác động tích cực đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, qua đó, hỗ trợ hiệu quả cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế.
aa

PV: Theo ông, các chính sách miễn, giảm, gia hạn thuế thời gian qua đã tác động ra sao đến sự phục hồi và mở rộng hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp?

Chính sách thuế hỗ trợ hiệu quả mục tiêu tăng trưởng
TS. Nguyễn Đình Chiến

TS. Nguyễn Đình Chiến: Để đánh giá toàn diện, chúng ta cần nhìn nhận các chính sách miễn, giảm, gia hạn thuế thời gian qua không chỉ là biện pháp hỗ trợ tài chính đơn thuần, mà là một cơ chế can thiệp kép tác động đồng thời vào cả phía cung và phía cầu của nền kinh tế.

Về phía cung, tức là bản thân các doanh nghiệp, chính sách gia hạn thời hạn nộp thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế giá trị gia tăng và tiền thuê đất đã trực tiếp giải quyết điểm nghẽn lớn nhất là thanh khoản. Việc được gia hạn nộp tiền thuế đồng nghĩa với việc doanh nghiệp được tiếp cận một nguồn vốn lưu động chi phí bằng không, giúp họ có dòng tiền thực để duy trì đội ngũ nhân sự và thanh toán cho đối tác nhằm giữ vững chuỗi cung ứng.

Về phía cầu, chính sách giảm thuế suất thuế giá trị gia tăng từ 10% xuống 8% trên diện rộng đã tạo ra tác động lan tỏa lập tức đến thị trường tiêu dùng. Việc giảm thuế trực tiếp vào giá giúp hạ giá bán lẻ, kích thích sức mua. Khi tiêu dùng phục hồi, doanh nghiệp giải phóng được hàng tồn kho, tạo ra dòng tiền mới tái cấp vốn cho sản xuất.

Dưới góc độ thực tiễn, các chính sách này đã hoàn thành tốt vai trò của mình thông qua những con số biết nói về sự phục hồi của cộng đồng doanh nghiệp và nền kinh tế.

Cụ thể, nhờ sự tiếp sức từ các chính sách, số lượng doanh nghiệp gia nhập và tái gia nhập thị trường liên tục duy trì ở mức cao và lập kỷ lục. Nếu như năm 2022 và 2023, con số này duy trì ở mức trên 200.000 doanh nghiệp, thì năm 2024 đã vượt mốc 233.000 doanh nghiệp. Bước sang năm 2025, bất chấp nhiều biến động của kinh tế toàn cầu, trung bình mỗi tháng vẫn có hàng chục nghìn doanh nghiệp gia nhập thị trường, cho thấy niềm tin kinh doanh đã thực sự trở lại.

Chính sách thuế hỗ trợ hiệu quả mục tiêu tăng trưởng
Các chính sách thuế là lực đẩy giúp doanh nghiệp mạnh dạn mở rộng quy mô, tăng thị phần. Ảnh: An Thư

PV: Ông đánh giá thế nào về vai trò của chính sách thuế mới áp dụng trong năm 2026 nhằm hỗ trợ khu vực kinh tế tư nhân phát triển?

TS. Nguyễn Đình Chiến: Tôi cho rằng, các chính sách thuế chính thức có hiệu lực từ đầu năm 2026 đánh dấu sự thay đổi thực sự trong tư duy lập pháp: đi từ tháo gỡ khó khăn ngắn hạn sang giải quyết những khiếm khuyết mang tính cấu trúc của khu vực kinh tế tư nhân.

Điểm nghẽn lớn nhất hiện nay là khu vực kinh tế tư nhân chủ yếu là doanh nghiệp siêu nhỏ và hộ kinh doanh cá thể, có rất ít doanh nghiệp quy mô vừa. Các chính sách mới đang giải quyết trực tiếp bài toán này với những tác động rất cụ thể.

Việc áp dụng mức thuế suất thu nhập doanh nghiệp 15% và 17% (thay vì áp dụng chung mức 20%) sẽ trực tiếp để lại một phần lợi nhuận cho các doanh nghiệp quy mô siêu nhỏ và nhỏ. Điều này giúp các doanh nghiệp có thêm vốn để mua sắm máy móc, áp dụng công nghệ hoặc trả lương nhằm giữ chân lao động giỏi. Đây là lực đẩy giúp doanh nghiệp mạnh dạn mở rộng quy mô, tăng thị phần.

Chính sách thuế giúp doanh nghiệp phục hồi và mở rộng sản xuất, kinh doanh

Theo TS. Nguyễn Đình Chiến, sự trợ lực kịp thời của các chính sách thuế đã góp phần giúp kinh tế Việt Nam bật tăng mạnh mẽ. GDP năm 2022 bứt phá lên mức 8,12% và trong giai đoạn 2023 - 2024, dù đối mặt với nhiều khó khăn từ kinh tế toàn cầu, Việt Nam vẫn kiên cường duy trì mức tăng trưởng thuộc nhóm cao nhất khu vực và thế giới (tăng trưởng 5,05 - 7,09%/năm).

Đến năm 2025, nền kinh tế tiếp tục duy trì đà bứt phá mạnh mẽ, tiếp tục nằm trong nhóm tăng trưởng cao nhất khu vực với mức 8,02%. Đây là minh chứng rõ nhất thể hiện chính sách thuế đã thực sự góp phần giúp doanh nghiệp phục hồi và mở rộng sản xuất, kinh doanh.

Bên cạnh đó, việc nâng mức doanh thu không chịu thuế lên 500 triệu đồng/năm và bãi bỏ lệ phí môn bài cũng có tác động tích cực đối với hoạt động của khu vực hộ kinh doanh, giảm đáng kể chi phí, tạo động lực cho các hộ kinh doanh nhỏ lẻ, cá nhân bán hàng online, kinh doanh tự do ổn định và mở rộng sản xuất, kinh doanh.

Ngoài ra, các quy định liên quan đến áp dụng hóa đơn điện tử, bỏ thuế khoán đối với hộ kinh doanh, áp dụng cách tính thuế đơn giản với doanh nghiệp siêu nhỏ... cũng làm thu hẹp ranh giới, thủ tục giữa hộ kinh doanh và doanh nghiệp. Hộ kinh doanh sẽ có động lực tự nguyện chuyển đổi sang mô hình doanh nghiệp minh bạch.

Nhờ đó, nền kinh tế vĩ mô thu hẹp được khu vực phi chính thức; bản thân các chủ thể cũng dễ dàng tiếp cận tín dụng ngân hàng, đáp ứng tiêu chuẩn để tham gia chuỗi cung ứng của các tập đoàn lớn, qua đó, tạo sức bật phát triển cho khu vực kinh tế tư nhân.

PV: Ông có khuyến nghị gì để chính sách thuế thời gian tới trở thành “đòn bẩy” hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng nhanh và bền vững?

TS. Nguyễn Đình Chiến: Trong bối cảnh hệ thống các luật thuế lớn (giá trị gia tăng, tiêu thụ đặc biệt, thu nhập doanh nghiệp, thu nhập cá nhân) vừa được Quốc hội thông qua và mới đi vào thực tiễn, khung pháp lý dài hạn về cơ bản đã được định hình. Do đó, để chính sách thuế thực sự là "đòn bẩy" linh hoạt, hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng nhanh và bền vững, theo tôi, nên tập trung vào các giải pháp thực tiễn, linh hoạt mang tính ngắn hạn.

Thứ nhất, tiếp tục sử dụng các gói ưu đãi ngắn hạn thông qua nghị quyết của Quốc hội và Chính phủ như gia hạn thời hạn nộp thuế, tiền thuê đất hoặc giảm thuế suất thuế giá trị gia tăng trong từng giai đoạn cụ thể. Đây là những nội dung chính sách có thể hấp thụ ngay lập tức vào nền kinh tế, giúp doanh nghiệp xoay vòng vốn nhanh và hỗ trợ nền kinh tế trong những thời điểm khó khăn nhất.

Thứ hai, thiết kế các chính sách hỗ trợ trúng đích, không dàn trải. Thời gian tới, các gói hỗ trợ, miễn giảm (nếu có) nên được tập trung “bắt mạch, kê đơn” cho đúng những ngành nghề đang thực sự cần sức bật, hoặc những địa phương, nhóm doanh nghiệp vừa chịu tổn thất nặng nề do các yếu tố khách quan. Việc hỗ trợ trúng đích vừa giúp tiết kiệm nguồn lực ngân sách, vừa đem lại hiệu quả thực tế cao nhất.

Thứ ba, coi cải cách thủ tục hành chính là một biện pháp ưu đãi thuế vô hình. Việc giảm số tiền phải nộp là rất tốt, nhưng giảm được chi phí thời gian và công sức tuân thủ còn quan trọng hơn. Cơ quan thuế cần tiếp tục đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo trong quản lý, đơn giản hóa các khâu thủ tục tuân thủ thuế. Khi doanh nghiệp không còn e ngại thủ tục rườm rà, họ sẽ dồn hết tâm trí và nguồn lực vào việc mở rộng sản xuất, kinh doanh.

Ngoài ra, để đảm bảo sự tăng trưởng bền vững, đòi hỏi phải có sự phân bổ nguồn lực hợp lý giữa kinh tế và môi trường. Các chính sách và quá trình quản lý thuế cần đảm bảo điều chỉnh kịp thời các ngành phát thải cao. Đồng thời xem xét áp dụng cơ chế khấu hao nhanh tài sản cố định đối với những thiết bị, máy móc sử dụng năng lượng sạch hoặc phục vụ mô hình kinh tế tuần hoàn, từ đó sử dụng thuế để khuyến khích nền kinh tế chuyển đổi xanh, bền vững một cách thực chất.

PV: Xin cảm ơn ông!

Đức Việt

Đọc thêm

Chính sách thuế mới tạo đà cho hộ kinh doanh phát triển bền vững

Chính sách thuế mới tạo đà cho hộ kinh doanh phát triển bền vững

TS. Phan Phương Nam - Phó Trưởng khoa Luật Thương mại (Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh) nhấn mạnh, công tác tuyên truyền, hỗ trợ cần được chú trọng, để chính sách thuế đối với hộ kinh doanh phát huy tối đa hiệu quả quản lý nhà nước, đồng thời tạo đà phát triển bền vững cho khu vực kinh tế cá thể.
Giảm thuế nhập khẩu xăng dầu về 0%: Hỗ trợ kịp thời, nhưng cần thêm “bộ đệm” chính sách

Giảm thuế nhập khẩu xăng dầu về 0%: Hỗ trợ kịp thời, nhưng cần thêm “bộ đệm” chính sách

Theo PGS.TS Ngô Trí Long (Hiệp hội Tư vấn tài chính Việt Nam), việc giảm thuế nhập khẩu xăng dầu về 0% đến hết tháng 4/2026 là một giải pháp tài khóa đúng lúc, hợp lý và có tác dụng giảm áp lực, nhưng để ổn định thị trường một cách bền vững, thì vẫn phải đi cùng các công cụ khác, chứ không thể dựa riêng vào giảm thuế.
Chính sách tài khóa tiếp tục tạo động lực cho tăng trưởng bền vững

Chính sách tài khóa tiếp tục tạo động lực cho tăng trưởng bền vững

ThS. Lê Thị Mai Liên - Trưởng ban Kinh tế vĩ mô và dự báo, Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính (Bộ Tài chính) cho rằng, cần phối hợp đồng bộ các động lực, để nền kinh tế có thêm dư địa thúc đẩy tăng trưởng nhanh và bền vững trong thời gian tới.
Tăng “sức đề kháng” chuỗi cung ứng trước biến động địa chính trị Trung Đông

Tăng “sức đề kháng” chuỗi cung ứng trước biến động địa chính trị Trung Đông

Trả lời phóng viên, TS. Nguyễn Sơn - Giảng viên ngành quản lý chuỗi cung ứng và logistics, Đại học RMIT Việt Nam cho rằng, rủi ro địa chính trị tại Trung Đông đang tác động tới thương mại và vận tải quốc tế. Việc tăng “sức đề kháng” chuỗi cung ứng sẽ là yếu tố then chốt giúp doanh nghiệp Việt Nam duy trì lợi thế cạnh tranh trong bối cảnh bất ổn toàn cầu.
Chứng khoán Việt có điểm tựa từ nền tảng vĩ mô và triển vọng nâng hạng

Chứng khoán Việt có điểm tựa từ nền tảng vĩ mô và triển vọng nâng hạng

Theo ông Đinh Quang Hinh - Trưởng bộ phận Vĩ mô và Chiến lược Thị trường, Công ty Chứng khoán VNDIRECT, căng thẳng tại Trung Đông và đà tăng mạnh của giá dầu đã tác động tới tâm lý nhà đầu tư trên thị trường tài chính. Tuy vậy, nền tảng kinh tế ổn định, dư địa chính sách và triển vọng nâng hạng vẫn được kỳ vọng giúp chứng khoán Việt Nam duy trì sự cân bằng trước các biến động bên ngoài.
Biến động Trung Đông và bài toán ứng phó của doanh nghiệp logistics

Biến động Trung Đông và bài toán ứng phó của doanh nghiệp logistics

Ông Phạm Quang Long - Giám đốc kinh doanh và phát triển thị trường, Công ty Allied Movers tại Việt Nam cho rằng, xung đột tại Trung Đông tác động tới vận tải biển và hàng không quốc tế, làm gia tăng chi phí và rủi ro logistics. Theo đó, Việt Nam cần củng cố hạ tầng và năng lực logistics để tận dụng cơ hội trong cấu trúc thương mại mới. Về phía doanh nghiệp, cần chủ động thích ứng và có chiến lược kinh doanh phù hợp.
Chủ động xây dựng kịch bản ứng phó với tác động từ xung đột tại Trung Đông

Chủ động xây dựng kịch bản ứng phó với tác động từ xung đột tại Trung Đông

Theo TS. Nguyễn Sơn - giảng viên ngành quản lý chuỗi cung ứng và logistics, Đại học RMIT Việt Nam, để giảm thiểu tác động từ xung đột tại Trung Đông, doanh nghiệp Việt cần chủ động rà soát hợp đồng quốc tế, đa dạng hóa nguồn cung nguyên liệu, điều chỉnh chiến lược logistics và xây dựng kịch bản ứng phó nếu xung đột kéo dài.
Dự báo diễn biến giá vàng khi xung đột Trung Đông “dậy sóng”

Dự báo diễn biến giá vàng khi xung đột Trung Đông “dậy sóng”

Xung đột tại Trung Đông đang khiến thị trường tài chính toàn cầu biến động mạnh, trong đó, vàng tiếp tục là tâm điểm chú ý của nhà đầu tư. TS. Lê Bá Chí Nhân - chuyên gia kinh tế cao cấp cho rằng, biến động quốc tế ngày càng lớn, nếu thiếu cơ chế giao dịch minh bạch, rủi ro đầu cơ và chênh lệch giá vàng sẽ lặp lại. Vì vậy, cần sớm hình thành sàn giao dịch vàng quốc gia và mở rộng nguồn cung theo lộ trình có kiểm soát.
Xem thêm