Chọn thẻ tín dụng của ngân hàng nào lợi nhất?

Hoàng Yến
Thẻ tín dụng đang ngày càng phổ biến nhờ sự tiện dụng và những ưu đãi hấp dẫn của các ngân hàng. Tuy nhiên, lựa chọn thẻ như thế nào cho có lợi nhất và để giảm thiểu chi phí vẫn là băn khoăn của nhiều người.
aa

the tin dung

(ảnh minh họa)

Để đẩy mạnh dịch vụ thẻ, các ngân hàng thời gian gần đây đã đưa ra nhiều chương trình ưu đãi như miễn phí phát hành thẻ hay cả phí thường niên năm đầu, ưu đãi giảm giá ở nhiều sản phẩm, dịch vụ, tặng quà khi mở thẻ…

Tuy nhiên, đó là những ưu đãi thường chỉ kéo dài một thời gian ngắn. Ngoài những ưu đãi này, người sử dụng thẻ cần cân nhắc việc lựa chọn ngân hàng có các mức phí, lãi suất hấp dẫn nhất để giảm thiểu chi phí khi sử dụng thẻ.

Ngân hàng lớn vẫn chiếm lợi thế

Thông thường, các chi phí phổ biến nhất khi sử dụng thẻ là phí phát hành thẻ, phí thường niên, lãi suất, phí rút tiền mặt, phí giao dịch ngoại tệ và phí phạt trả chậm trong trường hợp chưa thanh toán đúng hẹn.

Khảo sát 12 ngân hàng tiêu biểu trên thị trường trong các nhóm: ngân hàng thương mại nhà nước, ngân hàng thương mại cổ phần lớn và vừa, ngân hàng nước ngoài, có thể thấy nhóm ngân hàng thương mại nhà nước có lợi thế đáng kể với phí thường niên (phí người dùng phải trả hàng năm cho việc sử dụng thẻ), lãi suất (phải trả ngoài thời gian miễn lãi) và phí giao dịch ngoại tệ có thể coi là thấp nhất (đối với hai loại thẻ phổ biến hiện nay là Visa và MasterCard).

Phí thường niên thấp nhất hiện nay là của Vietinbank, 90.000 đồng/năm với hạng thẻ chuẩn. Lãi suất cho các khoản vay của các ngân hàng thương mại nhà nước cũng thuộc nhóm thấp nhất, từ 1,3 – 1,6%/tháng, phí giao dịch ngoại tệ 2 – 2,1%/tổng giao dịch. Đối với những người thường xuyên đi nước ngoài hoặc chi tiêu bằng ngoại tệ, mức phí giao dịch ngoại tệ thấp là ưu điểm đáng quan tâm. Trong 3 ngân hàng này, Vietcombank được đánh giá cao về sự thuận tiện khi xử lý giao dịch qua Internet và điện thoại di động.

Ở nhóm ngân hàng thương mại tư nhân là Sacombank, ACB, Eximbank, Techcombank, mức phí thường niên cao hơn một chút, bắt đầu từ 300.000 đồng/năm với hạng thẻ chuẩn. Lãi suất cũng cao hơn ở khoảng 1,5 - 2%/tháng. Eximbank là ngân hàng có lãi suất thấp nhất 1,5%/tháng, đồng thời phí phạt trả chậm cũng thấp nhất ở mức 3% khoản thanh toán tối thiểu (khoản thanh toán tối thiểu bằng 5% dư nợ). Trong nhóm này, Techcombank có mức lãi suất cao nhất 2,58%, phí phạt trả chậm cũng cao nhất 6% (tối thiểu là 150.000 đồng). ACB có phí giao dịch ngoại tệ cao nhất ở mức 3,7% tổng giao dịch.

Ngoại chưa hẳn đã cạnh tranh

Ở nhóm các ngân hàng nhỏ hơn như VIB, VP Bank, TP Bank, các mức phí cũng khá cạnh tranh. VIB có phí thường niên thấp nhất, từ 200.000 – 400.000 đồng/năm. TP Bank có lãi suất và phí giao dịch ngoại tệ cạnh tranh ngang ngửa với các ngân hàng lớn. Lãi suất của TP Bank từ 1,25 – 1,66%/tháng, phí giao dịch ngoại tệ từ 1,2% - 2,7%, tùy theo mức chi tiêu (thấp nhất trong các ngân hàng khảo sát).

Đối với nhóm các ngân hàng nước ngoài, đây là nhóm thường có các mức phí khá cao. Phí thường niên từ 350.000 đồng/tháng với thẻ chuẩn và lên đến 1.650.000 với hạng thẻ cao nhất. Phí giao dịch ngoại tệ dao động từ 2,5 – 4%.

Trong nhóm này, Citibank có mức phí thường niên cao nhất, từ 880.000 1.650.000 đồng/năm, phí giao dịch ngoại tệ cũng ở mức cao là 4%/tổng giao dịch. Tuy nhiên, Citibank có lợi thế là thời gian miễn lãi tối đa lên đến 55 ngày (thời gian từ lúc phát sinh giao dịch đến lúc thanh toán), trong khi các ngân hàng còn lại là 45 ngày.

Đối với phí rút tiền mặt bằng thẻ tín dụng, tất cả các ngân hàng được khảo sát đều ở mức 4% và đa số ngân hàng áp dụng phí tối thiểu từ 50.000 đồng/giao dịch, thời gian tính lãi bắt đầu ngay khi rút tiền. Trong dịch vụ này, Citibank có ưu điểm là thời gian tính lãi cho giao dịch rút tiền mặt bắt đầu vào ngày chốt sao kê. Đối với những người thường có nhu cầu rút tiền mặt thì đây là lựa chọn khá tốt.

Đồng thời cũng cần xét đến yếu tố hỗ trợ dịch vụ của ngân hàng có kịp thời, thuận tiện hay không. ANZ là ngân hàng có dịch vụ thẻ phát triển khá tốt tuy nhiên các giao dịch khi thực hiện chưa được thông báo ngay cho người sử dụng bằng tin nhắn hoặc email, để hạn chế những sai sót hoặc sự cố gây thất thoát. Đây là một điểm trừ khi mà dịch vụ này đã được nhiều ngân hàng nội địa và nước ngoài triển khai hiệu quả.

Ngoài yếu tố chi phí, những người nhận lương qua tài khoản mở thẻ tại chính ngân hàng có tài khoản cũng thuận tiện hơn, bởi bạn sẽ không phải nộp giấy tờ chứng minh thu nhập, tài sản đảm bảo, ngân hàng sẽ tự động trích lương để thanh toán thẻ hàng tháng…

Bảng so sánh lãi suất, chi phí cơ bản thẻ tín dụng của 12 ngân hàng:

Ngân hàng

Phí thường niên

(nghìn đồng/năm)

Lãi suất

(%/tháng)

Phí trả chậm (%/trên số tiền thanh toán tối thiểu)

Phí rút tiền mặt

(%/tổng giao dịch)

Phí GD ngoại tệ (%/tổng giao dịch)

Vietcombank

100 - 800

1,33 – 1,66

3%

4% (>=50)

2%

BIDV

200 - 400

1,37 – 1,5

3% (>=50)

4% (>=50)

2,1%

Vietinbank

90-1.000

1,5

3 – 6% (>=99)

4% (>=50)

2%

VIB

200 - 400

2

3% (>=50)

4% (>=60)

2,5%

Sacombank

300 - 1.000

2,15

6% (>=80)

4% (>=60)

2,6 – 2,9%

ACB

300-500

2,15

3,95%(>=50)

4% (>=60)

3,7%

Techcombank

300-500

2,58

6% (>=150)

4% (>=100)

3,49%

Eximbank

300-400

1,5

3% (>=50)

4% (>=60)

2,7%

VP Bank

275 - 880

6% (>=100)

4,4% (>=55)

3,3%

TP Bank

275 - 770

1,25 – 1,66

4% (>=100)

4%

1,2 - 2,7%

HSBC

350 - 1.200

2,16 – 2,6

4% (80 – 630)

4% (>=50)

2,5% - 4%

ANZ

350 – 1.150

2,65

4% (>=200)

4% (>=60)

3 – 3,5%

Citibank

880 – 1.650

2,15

3% ( 300 – 2.000)

3%

4%

Hoàng Yến

Hoàng Yến

Đọc thêm

Ngày 18/3: Giá thép và quặng sắt đồng loạt suy yếu

Ngày 18/3: Giá thép và quặng sắt đồng loạt suy yếu

Giá thép và quặng sắt hôm nay (18/3) đồng loạt suy yếu khi Trung Quốc tạm thời nới lỏng lệnh hạn chế đối với một sản phẩm của BHP. Trong nước, giá thép xây dựng ở các doanh nghiệp bình ổn.
Ngày 18/3: Giá cao su Nhật Bản, Thái Lan hồi phục nhờ giá dầu tăng

Ngày 18/3: Giá cao su Nhật Bản, Thái Lan hồi phục nhờ giá dầu tăng

Giá cao su Nhật Bản hôm nay (18/3) tăng trở lại khi giá cao su vật chất duy trì vững, đồng Yên suy yếu và giá dầu đi lên hỗ trợ thị trường. Trong nước, giá cao su bình ổn tại nhiều doanh nghiệp lớn, thể hiện thị trường nguyên liệu trong nước đang khá cân bằng.
Ngày 18/3: Giá cà phê đảo chiều tăng, hồ tiêu giảm mạnh

Ngày 18/3: Giá cà phê đảo chiều tăng, hồ tiêu giảm mạnh

Giá cà phê trong nước hôm nay (18/3) tăng khoảng 200 đồng/kg so với phiên trước đó. Hiện cà phê tại các vùng trọng điểm khu vực Tây Nguyên giao động trong khoảng 89.700 - 90.700 đồng/kg. Trong khi đó, giá tiêu giảm mạnh 1.500 - 3.500 đồng/kg, xuống mức thấp nhất gần 5 tháng do nguồn cung tăng từ vụ thu hoạch mới.
Ngày 18/3: Giá lúa gạo tại Đồng bằng sông Cửu Long "bình lặng", giao dịch mua bán yếu

Ngày 18/3: Giá lúa gạo tại Đồng bằng sông Cửu Long "bình lặng", giao dịch mua bán yếu

Giá lúa gạo hôm nay (18/3) tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long ít biến động; gạo nguyên liệu xuất khẩu giảm. Cụ thể, giá gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 5451 giảm 150 đồng/kg dao động ở mức 8.300 - 8.400 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu CL 555 dao động ở mức 7.800 - 7.900 đồng/kg…
Ngày 18/3: Giá heo hơi đồng loạt tăng ở cả 3 miền trên cả nước

Ngày 18/3: Giá heo hơi đồng loạt tăng ở cả 3 miền trên cả nước

Giá heo hơi hôm nay (18/3) đồng loạt tăng tại cả ba miền, trong đó nhiều địa phương điều chỉnh tăng từ 1.000 đồng/kg đến 2.000 đồng/kg so với hôm trước. Thị trường miền Nam tiếp tục dẫn đầu với mức giá cao nhất đạt 67.000 đồng/kg tại TP. Hồ Chí Minh.
Ngày 18/3: Giá bạc trong nước và thế giới đảo chiều tăng

Ngày 18/3: Giá bạc trong nước và thế giới đảo chiều tăng

Giá bạc trong nước và thế giới hôm nay (18/3) đảo chiều hồi phục khi đồng USD suy yếu. Trong nước, giá bạc đảo chiều tăng nhẹ, hiện được niêm yết ở mức 2.617.000 đồng/lượng (mua vào) và 2.646.000 đồng/lượng (bán ra). Trên thị trường thế giới, giá bạc niêm yết ở ngưỡng 81,11 USD/ounce, tăng 0,64 USD so với hôm qua.
Ngày 18/3: Giá dầu thế giới tăng mạnh trở lại

Ngày 18/3: Giá dầu thế giới tăng mạnh trở lại

Giá dầu thế giới hôm nay (18/3) tăng khoảng 3% sau các cuộc tấn công mới của Iran vào UAE. Cụ thể, giá dầu Brent tăng 3,21 USD/thùng, tương đương 3,2%, lên mức 103,42 USD/thùng; giá dầu WTI tăng 2,71 USD/thùng, tương đương 2,9%, lên mức 96,21 USD/thùng.
Ninh Bình: Phạt 35 triệu đồng doanh nghiệp bán xăng vượt giá trần, buộc hoàn tiền cho khách

Ninh Bình: Phạt 35 triệu đồng doanh nghiệp bán xăng vượt giá trần, buộc hoàn tiền cho khách

Một doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu tại Ninh Bình vừa bị xử phạt 35 triệu đồng do bán cao hơn giá tối đa theo quy định, đồng thời buộc hoàn trả toàn bộ khoản chênh lệch cho người tiêu dùng sau phản ánh từ người dân.
Xem thêm