Còn nhiều dư địa từ các FTA để phục hồi xuất khẩu cho năm 2024

Song Linh
Trao đổi với phóng viên TBTCVN, PGS.TS Đinh Trọng Thịnh cho hay, trong quý còn lại của năm 2023, hoạt động xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam tiếp tục gặp khó khăn do cầu thị trường thế giới giảm sút. Tuy nhiên, chúng ta có thể tận dụng cơ hội từ các hiệp định thương mại kéo đà phục hồi xuất khẩu cho năm 2024.
aa
Còn nhiều dư địa từ các FTA để phục hồi xuất khẩu cho năm 2024
Đầu tư cho các công đoạn sản xuất xanh để mở cửa thị trường xuất khẩu. Ảnh: TL

PV: Cùng với đà phục hồi của nền kinh tế, trong quý III/2023, hoạt động xuất khẩu của Việt Nam đã có dấu hiệu khởi sắc trở lại. Ông bình luận thế nào về thực tế này?

Còn nhiều dư địa từ các FTA để phục hồi xuất khẩu cho năm 2024
PGS.TS Đinh Trọng Thịnh

PGS.TS Đinh Trọng Thịnh: Nhìn chung, điểm sáng trong hoạt động xuất khẩu của nước ta trong quý III/2023, đặc biệt là tháng 9/2023 tốc độ suy giảm trong xuất khẩu của các doanh nghiệp (DN) đã chậm lại so với quý II/2023.

Trong quý III/2023, kim ngạch xuất khẩu ước đạt 94,6 tỷ USD, giảm 1,2% so với cùng kỳ năm trước và tăng 10,3% so với quý II năm 2023.

Trong 9 tháng, nhiều nhóm hàng nông sản, gạo, trái cây tận dụng được cơ hội mở cửa thị trường và giá tăng cao để đẩy mạnh xuất khẩu nên tốc độ tăng trưởng đạt cao nhất trong các nhóm hàng (tăng 3,1%). Chúng ta cũng thực hiện tốt việc đa dạng hóa thị trường, trong khi xuất khẩu sang các thị trường lớn của Việt Nam như Mỹ, EU đều giảm, nhưng xuất khẩu sang các nước châu Phi, Đông Âu, Bắc Âu, Tây Á tăng.

Tuy nhiên tôi cho rằng, hoạt động xuất khẩu hàng hóa trong tháng còn lại của năm 2023 còn không ít thách thức do kinh doanh thương mại quốc tế giảm chung. Rõ ràng đây là khó khăn cho DN Việt Nam.

PV: Có nhiều ý kiến từ các chuyên gia, nhà hoạch định chính sách cho rằng, trong khó khăn, cần quan tâm khai thác lợi thế từ các hiệp định thương mại tự do (FTA), qua đó giúp Việt Nam kéo lại đà xuất khẩu. Ông có đồng thuận với lập luận này?

PGS.TS Đinh Trọng Thịnh: Từ trước đến nay, chúng ta đã ký và triển khai 17 FTA. Tuy nhiên, theo Bộ Công thương thì Việt Nam mới tận dụng được 30% cơ hội này. Đây là khoảng trống, dư địa lớn mà DN Việt Nam có thể tận dụng.

Bản chất vấn đề là chúng ta đều mong muốn tận dụng được ưu đãi từ các FTA, những khả năng

Hỗ trợ về xúc tiến thương mại, thông tin thị trường

Theo PGS.TS Đinh Trọng Thịnh, để phục hồi xuất khẩu hàng Việt, trong lúc này việc đầu tiên là phải đẩy mạnh xúc tiến thương mại mà cụ thể là vai trò, trách nhiệm của Bộ Công thương, đại sứ quán, tham tán thương mại ở nước ngoài trong việc giúp doanh nghiệp quảng bá sản phẩm, cung cấp thông tin cho DN nắm bắt thị trường theo nhu cầu của từng quốc gia. Đồng thời, cơ quan chức năng cũng cần tăng cường cảnh báo và hỗ trợ DN trong việc phòng tránh áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại của nước nhập khẩu.

của DN tận dụng đến đâu trên cơ sở đáp ứng được yêu cầu chất lượng sản phẩm, nhu cầu thị trường cụ thể. Hiện nay đang vào thời điểm ký kết hợp đồng của năm 2024, doanh nghiệp Việt Nam cần nắm bắt được cơ hội, tận dụng ưu đãi FTA. Khi chúng ta tận dụng được các FTA thì được hưởng nhiều lợi ích từ thuế suất thấp, ưu đãi từ cơ chế hỗ trợ giữa các thành viên ký kết FTA, thông qua việc gỡ bỏ rào cản phi thuế quan.

PV: Xu thế hiện nay, nhiều thị trường lớn đưa ra các tiêu chuẩn về sản xuất xanh, bền vững. EU chính thức áp dụng chính sách đánh thuế hàng hóa nhập khẩu ô nhiễm từ ngày 1/10/2023. Đây là thách thức đối với DN xuất khẩu Việt Nam. Vậy, DN Việt Nam cần thay đổi như thế nào để vượt qua rào cản này, thưa ông?

PGS.TS Đinh Trọng Thịnh: Phát triển kinh tế xanh, bảo vệ môi trường vừa là cơ hội, nhưng cũng là thách thức khi nhiều quốc gia phát triển đưa ra các hàng rào nhập khẩu mới với lý do môi trường…

Rõ ràng việc bảo vệ môi trường cũng như đánh thuế carbon, khuyến khích sản xuất xanh đang trở thành một trong những xu hướng chủ yếu của thế giới. Để mở cửa được thị trường xuất khẩu, chúng ta phải chú ý đầu tư cho các công đoạn sản xuất xanh, bền vững.

Tôi đơn cử như mặt hàng dệt may có phần liên quan đến yếu tố môi trường và carbon, nên nhất thời hoạt động xuất khẩu mặt hàng này của nước ta có dấu hiệu chững lại. Đã có khách hàng EU chuyển hướng ký kết với doanh nghiệp dệt may của quốc gia khác, thay vì Việt Nam. Như vậy nếu không nhanh chóng thích ứng thì DN Việt Nam sẽ đánh mất thị trường cũng như lợi thế ưu đãi từ các FTA.

Rút kinh nghiệm từ bài học nêu trên thì các DN trong nền kinh tế quốc dân của chúng ta cần tự mình nhanh chóng đáp ứng được các yêu cầu mà thị trường xuất khẩu đòi hỏi.

PV: Với quan điểm của ông thì ở góc độ Chính phủ, bộ, ngành cần hỗ trợ DN như thế nào trong bối cảnh hiện nay khi xuất khẩu giảm sút, yêu cầu thị trường quốc tế ngày càng khắt khe, thưa ông?

PGS.TS Đinh Trọng Thịnh: Chúng ta cần tiếp tục tổ chức kết nối các DN trong nước tham gia vào chuỗi cung ứng của các doanh nghiệp FDI lớn toàn cầu đang đầu tư tại Việt Nam. Hỗ trợ DN tận dụng các cam kết trong các FTA, trong đó đặc biệt là các Hiệp định CPTPP, EVFTA, UKVFTA để đẩy mạnh xuất khẩu, thông qua tuyên truyền về quy tắc xuất xứ và cấp giấy chứng nhận xuất xứ, các cơ hội và cách thức tận dụng cơ hội từ các hiệp định.

Nâng cao hiệu quả và điều tiết tốt tốc độ thông quan hàng hóa xuất nhập khẩu tại khu vực cửa khẩu thuộc biên giới giữa Việt Nam - Trung Quốc.

PV: Xin cảm ơn ông!

Song Linh

Đọc thêm

Chính sách thuế mới tạo đà cho hộ kinh doanh phát triển bền vững

Chính sách thuế mới tạo đà cho hộ kinh doanh phát triển bền vững

TS. Phan Phương Nam - Phó Trưởng khoa Luật Thương mại (Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh) nhấn mạnh, công tác tuyên truyền, hỗ trợ cần được chú trọng, để chính sách thuế đối với hộ kinh doanh phát huy tối đa hiệu quả quản lý nhà nước, đồng thời tạo đà phát triển bền vững cho khu vực kinh tế cá thể.
Giảm thuế nhập khẩu xăng dầu về 0%: Hỗ trợ kịp thời, nhưng cần thêm “bộ đệm” chính sách

Giảm thuế nhập khẩu xăng dầu về 0%: Hỗ trợ kịp thời, nhưng cần thêm “bộ đệm” chính sách

Theo PGS.TS Ngô Trí Long (Hiệp hội Tư vấn tài chính Việt Nam), việc giảm thuế nhập khẩu xăng dầu về 0% đến hết tháng 4/2026 là một giải pháp tài khóa đúng lúc, hợp lý và có tác dụng giảm áp lực, nhưng để ổn định thị trường một cách bền vững, thì vẫn phải đi cùng các công cụ khác, chứ không thể dựa riêng vào giảm thuế.
Chính sách tài khóa tiếp tục tạo động lực cho tăng trưởng bền vững

Chính sách tài khóa tiếp tục tạo động lực cho tăng trưởng bền vững

ThS. Lê Thị Mai Liên - Trưởng ban Kinh tế vĩ mô và dự báo, Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính (Bộ Tài chính) cho rằng, cần phối hợp đồng bộ các động lực, để nền kinh tế có thêm dư địa thúc đẩy tăng trưởng nhanh và bền vững trong thời gian tới.
Tăng “sức đề kháng” chuỗi cung ứng trước biến động địa chính trị Trung Đông

Tăng “sức đề kháng” chuỗi cung ứng trước biến động địa chính trị Trung Đông

Trả lời phóng viên, TS. Nguyễn Sơn - Giảng viên ngành quản lý chuỗi cung ứng và logistics, Đại học RMIT Việt Nam cho rằng, rủi ro địa chính trị tại Trung Đông đang tác động tới thương mại và vận tải quốc tế. Việc tăng “sức đề kháng” chuỗi cung ứng sẽ là yếu tố then chốt giúp doanh nghiệp Việt Nam duy trì lợi thế cạnh tranh trong bối cảnh bất ổn toàn cầu.
Chứng khoán Việt có điểm tựa từ nền tảng vĩ mô và triển vọng nâng hạng

Chứng khoán Việt có điểm tựa từ nền tảng vĩ mô và triển vọng nâng hạng

Theo ông Đinh Quang Hinh - Trưởng bộ phận Vĩ mô và Chiến lược Thị trường, Công ty Chứng khoán VNDIRECT, căng thẳng tại Trung Đông và đà tăng mạnh của giá dầu đã tác động tới tâm lý nhà đầu tư trên thị trường tài chính. Tuy vậy, nền tảng kinh tế ổn định, dư địa chính sách và triển vọng nâng hạng vẫn được kỳ vọng giúp chứng khoán Việt Nam duy trì sự cân bằng trước các biến động bên ngoài.
Biến động Trung Đông và bài toán ứng phó của doanh nghiệp logistics

Biến động Trung Đông và bài toán ứng phó của doanh nghiệp logistics

Ông Phạm Quang Long - Giám đốc kinh doanh và phát triển thị trường, Công ty Allied Movers tại Việt Nam cho rằng, xung đột tại Trung Đông tác động tới vận tải biển và hàng không quốc tế, làm gia tăng chi phí và rủi ro logistics. Theo đó, Việt Nam cần củng cố hạ tầng và năng lực logistics để tận dụng cơ hội trong cấu trúc thương mại mới. Về phía doanh nghiệp, cần chủ động thích ứng và có chiến lược kinh doanh phù hợp.
Chủ động xây dựng kịch bản ứng phó với tác động từ xung đột tại Trung Đông

Chủ động xây dựng kịch bản ứng phó với tác động từ xung đột tại Trung Đông

Theo TS. Nguyễn Sơn - giảng viên ngành quản lý chuỗi cung ứng và logistics, Đại học RMIT Việt Nam, để giảm thiểu tác động từ xung đột tại Trung Đông, doanh nghiệp Việt cần chủ động rà soát hợp đồng quốc tế, đa dạng hóa nguồn cung nguyên liệu, điều chỉnh chiến lược logistics và xây dựng kịch bản ứng phó nếu xung đột kéo dài.
Dự báo diễn biến giá vàng khi xung đột Trung Đông “dậy sóng”

Dự báo diễn biến giá vàng khi xung đột Trung Đông “dậy sóng”

Xung đột tại Trung Đông đang khiến thị trường tài chính toàn cầu biến động mạnh, trong đó, vàng tiếp tục là tâm điểm chú ý của nhà đầu tư. TS. Lê Bá Chí Nhân - chuyên gia kinh tế cao cấp cho rằng, biến động quốc tế ngày càng lớn, nếu thiếu cơ chế giao dịch minh bạch, rủi ro đầu cơ và chênh lệch giá vàng sẽ lặp lại. Vì vậy, cần sớm hình thành sàn giao dịch vàng quốc gia và mở rộng nguồn cung theo lộ trình có kiểm soát.
Xem thêm