Đã giải ngân 5.700 tỷ đồng cho 19 địa phương dân tộc, miền núi phía Bắc

Ngày 26/6, tại Tuyên Quang, Ủy ban Dân tộc phối hợp với UBND tỉnh Tuyên Quang tổ chức Hội nghị sơ kết 3 năm triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi từ năm 2021-2023, nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm giai đoạn 2023-2025.
aa
Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc Hầu A Lềnh, Phó Chủ tịch Hội đồng Dân tộc của Quốc hội Đinh Thị Phương Lan, Chủ tịch UBND tỉnh Tuyên Quang Nguyễn Văn Sơn, Thứ trưởng, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc Y Vinh Tơr đồng chủ trì Hội nghị
Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc Hầu A Lềnh phát biểu tại Hội nghị. Ảnh: TL

Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc Hầu A Lềnh chủ trì hội nghị. Dự hội nghị có các đại biểu của 19 tỉnh, thành phố khu vực phía Bắc.

Phát biểu tại hội nghị, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc Hầu A Lềnh nhấn mạnh, Chương trình mục tiêu Quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030 là một chủ trương lớn, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng nhằm phát triển toàn diện về kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh, xây dựng Đảng, hệ thống chính trị, củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết các dân tộc, củng cố và giữ vững niềm tin của đồng bào đối với Đảng và Nhà nước.

Trên tinh thần nhìn thẳng vào những vướng mắc, lắng nghe ý kiến của cơ sở, những chia sẻ tại hội nghị lần này giúp gợi mở nhiều vấn đề để rút kinh nghiệm triển khai thực hiện trong thời gian tới. Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc đề nghị Ban Dân tộc các tỉnh cần nghiên cứu văn bản kỹ để tham mưu cho UBND tỉnh có chỉ đạo, hướng dẫn cấp cơ sở thực hiện đúng tiến độ và phát huy hiệu quả chương trình. Các sở, ngành, địa phương tăng cường công tác phối hợp, chia sẻ thông tin, kinh nghiệm trong quá trình triển khai thực hiện; chấp hành nghiêm chế độ báo cáo tiến độ cụ thể, chi tiết để kịp thời tháo gỡ, chỉ đạo.

Sau 3 năm thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đã góp phần rất lớn trong việc thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương. Các nguồn lực, chính sách của Chương trình đã và đang tập trung đầu tư phát triển các công trình hạ tầng thiết yếu phục vụ dân sinh tập trung vào địa bàn đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

Thông qua đầu tư, hỗ trợ phát triển sản xuất và sinh kế góp phần nâng cao thu nhập cho người dân; công tác bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc được quan tâm. Cùng với việc thực hiện các chính sách dân tộc và các chương trình mục tiêu Quốc gia giai đoạn 2021 - 2025, các địa phương đã thực hiện tốt công tác xóa đói, giảm nghèo, đào tạo nghề, giải quyết việc làm; đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào được nâng cao; công tác chăm sóc sức khỏe, giáo dục - đào tạo có những chuyển biến tích cực.

Từ năm 2021 đến 31/5/2023, 19 tỉnh, thành phố khu vực phía Bắc giải ngân nguồn vốn thực hiện Chương trình gần 5.700 tỷ đồng, đạt hơn 21,46%. Trong số kinh phí đã được giải ngân trên, số vốn giải ngân của 4 tỉnh thực hiện Chương trình bằng nguồn ngân sách địa phương tự cân đối đạt hơn 2.100 tỷ đồng (chiếm 66,70%).

Đến hết năm 2023, Chương trình hoàn thành các mục tiêu quan trọng như: 99,2% xã có đường ô tô đến trung tâm xã được rải nhựa hoặc bê tông; tỷ lệ thôn có đường ô tô đến trung tâm được cứng hóa đạt trung bình 91,7%; tỷ lệ trường, lớp học được xây dựng kiên cố đạt trung bình 90,1%; tỷ lệ trạm y tế được xây dựng kiên cố đạt trung bình 92,3%; tỷ lệ hộ dân được sử dụng điện lưới quốc gia và các nguồn điện khác phù hợp đạt trung bình 98,6%; tỷ lệ lao động trong độ tuổi được đào tạo nghề đạt trung bình 54,7%; tỷ lệ học sinh học mẫu giáo 5 tuổi đến trường đạt trung bình 92,8%; tỷ lệ thôn có nhà sinh hoạt cộng đồng đạt trung bình 92%...

Tại hội nghị, các đại biểu đã nêu những khó khăn, hạn chế trong việc triển khai Chương trình, trong đó việc phân bổ vốn tại các địa phương chậm, ảnh hưởng đến công tác thực hiện và giải ngân năm 2022, nhất là đối với các dự án quy mô lớn.

Công tác nắm thông tin phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành, đánh giá tình hình triển khai thực hiện Chương trình gặp những hạn chế liên quan việc đến nhiều địa phương chậm thực hiện báo cáo việc giao kế hoạch vốn, tiến độ ban hành kế hoạch, khối lượng nhiệm vụ triển khai và tiến độ giải ngân thực hiện.

Công tác phối hợp giữa các sở, ban, ngành có liên quan tại địa phương trong quá trình triển khai thực hiện chương trình và tham mưu cấp có thẩm quyền rà soát, sửa đổi, bổ sung còn những bất cập, hạn chế, khó khăn, tồn tại và ban hành các văn bản đôi lúc còn chậm, chưa kịp thời.../.

T.L (t/h)

Đọc thêm

Đa dạng hóa kênh dẫn vốn đáp ứng nhu cầu đầu tư của nền kinh tế

Đa dạng hóa kênh dẫn vốn đáp ứng nhu cầu đầu tư của nền kinh tế

Khi nhu cầu vốn cho hạ tầng, công nghiệp và chuyển đổi xanh ngày càng lớn, mô hình phụ thuộc chủ yếu vào tín dụng ngân hàng đang bộc lộ những giới hạn. Trong bối cảnh đó, việc phát triển thị trường vốn và thu hút dòng vốn quốc tế không chỉ là giải pháp bổ sung, mà đang trở thành động lực then chốt để mở rộng nguồn lực, hướng tới mục tiêu tăng trưởng nhanh và bền vững.
Hải Phòng điều hành kinh tế - xã hội bám sát kịch bản tăng trưởng

Hải Phòng điều hành kinh tế - xã hội bám sát kịch bản tăng trưởng

Kinh tế - xã hội của TP. Hải Phòng luôn ghi nhận nhiều tín hiệu tích cực trên hầu hết các lĩnh vực, cơ bản bám sát kịch bản tăng trưởng đề ra.

TP. Hồ Chí Minh: Muốn tăng trưởng cao phải đổi cách phát triển

Trong bối cảnh kinh tế thế giới biến động và áp lực tăng trưởng ngày càng lớn, TP. Hồ Chí Minh đang đứng trước yêu cầu phải thay đổi mô hình phát triển. Những lợi thế của một trung tâm kinh tế lớn nhất cả nước vẫn lớn, nhưng nếu không tháo gỡ các nút thắt về thể chế, hạ tầng và năng lượng, Thành phố khó bứt phá để trở thành siêu đô thị đổi mới sáng tạo của khu vực.
Bộ Tài chính chủ động kịp thời, giữ ổn định kinh tế vĩ mô

Bộ Tài chính chủ động kịp thời, giữ ổn định kinh tế vĩ mô

Trước những diễn biến phức tạp của xung đột quân sự tại Trung Đông và nguy cơ tác động tới kinh tế toàn cầu, Bộ Tài chính đã nhanh chóng ban hành chỉ đạo yêu cầu toàn Ngành theo dõi sát tình hình, đánh giá đầy đủ các kịch bản tác động và chủ động đề xuất giải pháp điều hành phù hợp.
Chủ động thích ứng, thúc đẩy hoạt động xuất khẩu

Chủ động thích ứng, thúc đẩy hoạt động xuất khẩu

Thủ tướng Chính phủ vừa ký Công điện số 23/CĐ-TTg ngày 16/3/2026 chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương, tập đoàn, tổng công ty nhà nước tiếp tục thực hiện quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả các các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm để chủ động thích ứng linh hoạt với tình hình thế giới, khu vực, thúc đẩy hơn nữa hoạt động xuất khẩu.
Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa chuyển đổi số, phát triển hệ sinh thái số

Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa chuyển đổi số, phát triển hệ sinh thái số

Đề án chuyển đổi số các doanh nghiệp nhỏ và vừa giai đoạn 2026 - 2030 đặt mục tiêu đến năm 2030, có ít nhất 500.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa được hỗ trợ chuyển đổi số và phát triển hệ sinh thái số thông qua các hoạt động của đề án.
Thủ tướng chỉ đạo tiếp tục tháo gỡ các dự án tồn đọng, thúc đẩy tăng trưởng

Thủ tướng chỉ đạo tiếp tục tháo gỡ các dự án tồn đọng, thúc đẩy tăng trưởng

Ngày 16/3, tại trụ sở Chính phủ, Thủ tướng Phạm Minh Chính chủ trì cuộc họp của Thường trực Chính phủ cho ý kiến về một số nội dung quan trọng để tiếp tục tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc, các vấn đề, dự án tồn đọng, kéo dài, khơi thông, giải phóng, huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực, góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế từ 10% trở lên.
Quảng Ninh dự kiến thu hơn 15.600 tỷ đồng từ du lịch trong quý I/2026

Quảng Ninh dự kiến thu hơn 15.600 tỷ đồng từ du lịch trong quý I/2026

Bước vào năm 2026, Quảng Ninh tiếp tục khẳng định vị thế điểm đến hàng đầu khi đón hơn 6,2 triệu lượt khách trong quý I, doanh thu vượt 15.687 tỷ đồng. Những con số này cho thấy sức bật mạnh mẽ và triển vọng tăng trưởng tích cực của ngành du lịch Quảng Ninh.
Xem thêm
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0,20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80