Đại biểu Quốc hội với ngành Tài chính

Nguồn lực tài chính được huy động và sử dụng hiệu quả cho phát triển KT-XH của đất nước. Trong ảnh: Cầu Hoàng Văn Thụ - công trình giao thông cấp đặc biệt của TP. Hải Phòng, có ý nghĩa quan trọng cho sự phát triển của thành phố cảng.
Phóng viên TBTCVN ghi lại một số ý kiến đánh giá của các đại biểu Quốc hội về những kết quả hoạt động nổi bật của ngành Tài chính thời gian qua. Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.
* Đại biểu Quốc hội Phạm Đình Toản - Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội:
Điều hành chủ động hơn nhờ cơ cấu ngân sách tích cực
![]() |
| Đại biểu Phạm Đình Toản |
Trong mỗi chặng đường phát triển của ngành Tài chính đều có những đóng góp to lớn vào thành tựu chung của đất nước. Đặc biệt là từ thời kỳ đổi mới đến nay, những kết quả mà ngành Tài chính đã đạt được là rất quan trọng, đóng góp đáng kể trong sự phát triển chung. Một số điểm nhấn là:
Hệ thống thể chế, chính sách tài chính – ngân sách ngày càng hoàn thiện, nâng cao hiệu quả nền tài chính quốc gia. Điểm đáng chú ý là trong giai đoạn 2011 - 2020, Quốc hội thông qua Hiến pháp năm 2013 và nhiều luật, góp phần quan trọng trong việc tạo thể chế chất lượng, hiệu quả cho điều hành ngân sách nhà nước (NSNN) của Chính phủ; thúc đẩy các địa phương thu đúng, thu đủ, quản lý chặt chẽ chi tiêu, cũng như khuyến khích phát triển sản xuất - kinh doanh.
Bên cạnh đó, ngành Tài chính đã tích cực đổi mới phương thức quản lý NSNN, đảm bảo thu, chi tiết kiệm, hiệu quả, chặt chẽ; cân đối ngân sách tích cực, nợ công được kiểm soát chặt chẽ; góp phần đảm bảo an toàn, an ninh tài chính quốc gia, ổn định kinh tế vĩ mô và đảm bảo an sinh xã hội.
Theo dõi qua báo cáo Chính phủ các năm cho thấy, kết quả thu, chi NSNN và cân đối NSNN khá tích cực, thu NSNN năm sau luôn cao hơn năm trước. Bội chi NSNN bình quân giai đoạn 2016 - 2020 khoảng 3,7% GDP, thấp hơn đáng kể so với giai đoạn trước. Nợ công được kiểm soát chặt chẽ và nằm trong giới hạn, theo các nghị quyết của Quốc hội.
Một kết quả đáng ghi nhận nữa là quá trình tái cấu trúc thị trường tài chính, thúc đẩy thị trường tài chính phát triển đồng bộ, ổn định. Thị trường chứng khoán Việt Nam ngày càng phát triển, đóng vai trò ngày càng lớn trong việc huy động nguồn lực cho phát triển kinh tế. Theo báo cáo của Chính phủ, đến hết năm 2019, quy mô thị trường vốn đã đạt 111,7% GDP.
Quá trình tái cơ cấu, sắp xếp, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước (DNNN) cũng đạt những kết quả quan trọng. Ngành Tài chính đã quyết liệt trong chỉ đạo và tổ chức triển khai đổi mới, sắp xếp, cơ cấu lại DNNN; đổi mới đơn vị sự nghiệp công lập.
Những kết quả đó đã tăng thêm niềm tin của cử tri, đại biểu Quốc hội, góp phần hỗ trợ người dân và DN, thu hút nhà đầu tư, từ đó thúc đẩy sản xuất kinh doanh và tăng nguồn thu cho NSNN, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô. Trước những tình huống ngoài dự báo như dịch bệnh Covid-19, thiên tai…, Bộ Tài chính đã chủ động tham mưu trình Chính phủ đã sớm ban hành và trình Quốc hội ban hành những chính sách để ứng phó kịp thời tăng năng lực phòng chống dịch, hỗ trợ kịp thời cho nền kinh tế.
* Đại biểu Nguyễn Hữu Quang - Phó Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính – Ngân sách của Quốc hội:
Hoàn thiện chính sách thuế, thúc đẩy phát triển kinh tế
![]() |
| Đại biểu Nguyễn Hữu Quang |
Công tác hoàn thiện khung khổ pháp luật về tài chính là một thành công quan trọng của ngành Tài chính thời gian qua. Trong đó, hệ thống chính sách thuế những năm gần đây ngày càng hoàn thiện, bao quát cơ bản các nguồn thu cần điều tiết trong nền kinh tế.
Để thực hiện Chiến lược cải cách hệ thống thuế và các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước, trong giai đoạn 2016 – 2020, chúng ta đã nhiều lần sửa đổi bổ sung hầu hết các luật, nghị quyết liên quan đến các nguồn thu ngân sách đảm bảo dần hoàn thiện hệ thống các quy định bao gồm: Luật Quản lý thuế (năm 2016, 2019), Luật Thuế giá trị gia tăng (GTGT năm 2016), Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu (năm 2016), Luật Thuế bảo vệ môi trường (năm 2018), Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt (năm 2016), Luật Quản lý và sử dụng tài sản công (năm 2017)…
Các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tài chính nỗ lực tổ chức xây dựng và ban hành cơ bản đầy đủ, kịp thời, góp phần quan trọng thúc đẩy kinh tế phát triển, thu hút đầu tư, tăng thu NSNN.
Theo đó, hệ thống chính sách thuế, phí và lệ phí về cơ bản phù hợp với định hướng phát triển kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, góp phần chủ động tham gia hội nhập kinh tế quốc tế, bảo vệ lợi ích quốc gia; khuyến khích thu hút đầu tư của các thành phần kinh tế và đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, bên cạnh đó bảo hộ hợp lý, có chọn lọc, có thời hạn các sản phẩm, hàng hóa sản xuất trong nước phù hợp với các cam kết, thông lệ quốc tế.
Công tác quản lý, thu thuế ngày càng chuyên nghiệp, hiệu lực, hiệu quả. Việc quy định người nộp thuế được quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong việc tự tính, tự khai, tự nộp, tự chịu trách nhiệm đồng thời thúc đẩy công tác thanh tra, kiểm tra đã góp phần quan trọng đẩy mạnh cải cách hành chính về thuế và tăng cường, kịp thời chấn chỉnh, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm về thuế. Công tác hoàn thuế đã hỗ trợ tích cực cho người nộp thuế; các quy định về hoàn thuế đã được sửa đổi, bổ sung theo hướng rút gọn, quy trình rõ ràng, minh bạch và xây dựng hệ thống ứng dụng công nghệ thông tin hỗ trợ người nộp thuế lập và gửi hồ sơ hoàn thuế GTGT, nhận kết quả giải quyết hoàn thuế GTGT theo phương thức điện tử. Công tác kiểm tra, thanh tra thuế ngày càng phát huy vai trò chủ chốt trong hoạt động quản lý thuế.
Thông qua công tác thanh tra, kiểm tra đã góp phần đảm bảo việc thu đúng, thu đủ số thuế phải nộp vào NSNN. Công tác thanh tra, kiểm tra đã cơ bản đáp ứng được yêu cầu của công tác quản lý thuế.
* Đại biểu Quốc hội, TS Vũ Tiến Lộc, Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam:
Ngành Tài chính tiên phong trong cải cách thủ tục hành chính
![]() |
| Đại biểu Vũ Tiến Lộc |
Tôi ấn tượng nhất là những nỗ lực trong cải cách thủ tục hành chính (TTHC), cải thiện môi trường kinh doanh. Nói về cải cách TTHC, hiện đại hóa thì Tài chính là ngành tiên phong, đi đầu. Từ nhiều năm trước, Bộ Tài chính đã bắt đầu thực hiện cải cách, đặc biệt là trong lĩnh vực thuế, hải quan, giúp giảm mạnh thời gian nộp thuế và thông quan hàng hóa.
Tôi còn nhớ cách đây vài năm, Bộ Tài chính đã trực tiếp mời các hiệp hội doanh nghiệp (DN) đến cùng tham gia rà soát từng văn bản để góp ý sửa đổi, bổ sung nhằm kiến nghị với Chính phủ ban hành để tạo thuận lợi cho hoạt động sản xuất, kinh doanh. Bộ Tài chính đã sáng tạo ra nhiều cách làm hay nhằm giảm các bước trong cải cách TTHC như một luật sửa nhiều luật, một nghị định sửa nhiều nghị định và một thông tư sửa nhiều thông tư. Bên cạnh đó, Bộ Tài chính cũng đi đầu về thực hiện chính phủ điện tử. Hiện nay, lĩnh vực thuế, hải quan có tới 99,9% các DN đã đăng ký thuế qua mạng và có tới 98% các DN thực hiện nộp thuế qua mạng. Theo khảo sát ý kiến của cộng đồng DN, trên 70% các DN được khảo sát hài lòng về kết quả cải cách TTHC về lĩnh vực thuế, hải quan.
Những cải cách của ngành Tài chính đã có tác động rất sâu sắc đến hoạt động của các DN. Biểu hiện rõ nhất là năm qua Hội đồng Tư vấn cải cách TTHC của Thủ tướng Chính phủ đã công bố, nhóm thuế và hải quan là 2 trong 3 nhóm dẫn đầu về chi phí tuân thủ thấp nhất. Theo đánh giá của VCCI, các chi phí TTHC của Bộ Tài chính đã giảm đến 80%. Báo cáo khảo sát của VCCI đánh giá mức độ hài lòng của DN về lĩnh vực thuế và hải quan cho thấy, tỷ lệ DN hài lòng với các thủ tục thuế, hải quan, bảo hiểm xã hội, thành lập DN ngày càng tăng lên. Trong đó, nhiều chỉ số đánh giá quan trọng cũng đều ở điểm cao nhờ sự dễ dàng tiếp cận thông tin, hiệu quả của công tác cải cách TTHC và thái độ tiếp nhận, xử lý các vấn đề liên quan đến DN của công chức thuế và hải quan.
Những điều trên cho thấy nỗ lực trong việc cải cách thể chế, TTHC, cắt giảm, đơn giản hóa các điều kiện kinh doanh trong lĩnh vực tài chính có một diện đối tượng rất lớn được thụ hưởng lợi ích. Đặc biệt, nhiều vấn đề trước đây được coi là “nóng” như chi phí không chính thức được phản ánh tiếp tục giảm mạnh, tạo không khí tin cậy và hợp tác giữa cán bộ thuế, hải quan với DN.
Cộng đồng DN đánh giá cao sự cầu thị của ngành Tài chính trong những năm gần đây trong việc lắng nghe, tiếp nhận các ý kiến phản ánh. Nhiều phản ánh, kiến nghị của DN qua các cuộc khảo sát trước đây đã được Bộ Tài chính kịp thời xử lý. Từ những kết quả này, người dân và DN cũng kỳ vọng vào những nỗ lực, đột phá trong việc cải cách TTHC thuế, hải quan đi vào chiều sâu, thiết thực hơn nữa.
| Cải cách của ngành Tài chính đã có tác động rất sâu sắc đến hoạt động của doanh nghiệp “Những cải cách của ngành Tài chính đã có tác động rất sâu sắc đến hoạt động của các doanh nghiệp. Biểu hiện rõ nhất là năm qua Hội đồng Tư vấn cải cách thủ tục hành chính của Thủ tướng Chính phủ đã công bố, nhóm thuế và hải quan là 2 trong 3 nhóm dẫn đầu về chi phí tuân thủ thấp nhất. Theo đánh giá của VCCI, các chi phí thủ tục hành chính của Bộ Tài chính đã giảm đến 80%. Báo cáo khảo sát của VCCI đánh giá mức độ hài lòng của doanh nghiệp về lĩnh vực thuế và hải quan cho thấy, tỷ lệ doanh nghiệp hài lòng với các thủ tục thuế, hải quan, bảo hiểm xã hội, thành lập doanh nghiệp ngày càng tăng lên. Trong đó, nhiều chỉ số đánh giá quan trọng cũng đều ở điểm cao nhờ sự dễ dàng tiếp cận thông tin, hiệu quả của công tác cải cách thủ tục hành chính và thái độ tiếp nhận, xử lý các vấn đề liên quan đến doanh nghiệp của công chức thuế và hải quan”. TS. Vũ Tiến Lộc |
* Đại biểu Lê Hồng Tịnh - Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội:
Chính sách tài chính hỗ trợ phát triển khoa học công nghệ
![]() |
| Đại biểu Lê Hồng Tịnh |
Trong những năm qua, ngành Tài chính đã có những đóng góp quan trọng cho công cuộc đổi mới, phát triển đất nước. Đối với lĩnh vực khoa học và công nghệ (KH&CN), nhiều cơ chế, chính sách tài chính cho quản lý KH&CN đã từng bước được đổi mới, hoàn thiện, linh hoạt, tạo điều kiện phát triển KH&CN của đất nước.
Ngành Tài chính đã xây dựng, trình Chính phủ, Quốc hội nhiều nhóm cơ chế chính sách nhằm khuyến khích các cá nhân, doanh nghiệp đầu tư vào KH&CN, đổi mới cơ chế hoạt động của tổ chức KH&CN, đổi mới cơ chế quản lý tài chính từ NSNN cho KH&CN... Điều này được thể hiện thông qua các Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp, Luật Thuế thu nhập cá nhân, Nghị định số 95/2014/NĐ-CP quy định về đầu tư và cơ chế tài chính đối với hoạt động KH&CN, Nghị định số 54/2016/NĐ-CP quy định cơ chế tự chủ của tổ chức KH&CN công lập…
Mặc dù điều kiện NSNN của đất nước còn gặp nhiều khó khăn, nhưng việc bố trí chi NSNN cho phát triển hoạt động KH&CN luôn được ưu tiên năm sau cao hơn năm trước. Chẳng hạn trong năm 2019, tổng chi sự nghiệp cho KH&CN đạt 12.825 tỷ đồng, tăng khoảng 22% so với năm 2016. Ngoài ra, hàng năm chi cho KH&CN còn được bố trí trong chi quốc phòng, an ninh, đặc biệt và chi từ nguồn ưu đãi thu nhập tính thuế để trích lập Quỹ phát triển KH&CN của các DN theo quy định hiện hành.
Nguồn lực đầu tư cho KH&CN dần được đa dạng. Đầu tư từ NSNN cho phát triển KH&CN tiếp tục được mở rộng và tăng cường, góp phần quan trọng trong việc thực hiện có kết quả các nhiệm vụ về phát triển KH&CN nói riêng và nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội nói chung của đất nước. Hoạt động nghiên cứu KH&CN bắt đầu gắn với nhu cầu thị trường, cơ chế quản lý nhiệm vụ đã dựa trên nguyên tắc cạnh tranh lành mạnh và phản biện độc lập theo thông lệ quốc tế.
Những chính sách này đã góp phần vào những kết quả tích cực về phát triển KH&CN của Việt Nam những năm qua. Theo đó, tỷ trọng giá trị sản phẩm công nghệ cao, ứng dụng công nghệ cao trên GDP (%) tăng dần theo các năm. Đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) trong tăng trưởng của nền kinh tế năm 2019 đạt 46,11%, cao hơn nhiều so với mức bình quân 33,58% của giai đoạn 2011 - 2015. KH&CN cũng đóng góp trên 30% giá trị gia tăng trong sản xuất nông nghiệp, giúp chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp năm 2018 tăng 10,2% so với năm 2017.
Bên cạnh những kết quả đạt được, tôi cũng mong muốn chính sách tài chính cho KH&CN thời gian tới có giải pháp khắc phục một số tồn tại hiện nay. Đó là, trình độ phát triển KH&CN còn thấp so với các nước trong khu vực. Việc đổi mới cơ chế hoạt động của các tổ chức KH&CN công lập còn chậm; cơ cấu chi cho phát triển KH&CN trong các tổ chức KH&CN còn chưa hợp lý, tỷ lệ chi thường xuyên còn cao…
* Đại biểu Quốc hội - PGS.TS Hoàng Văn Cường:
Nợ công được kiểm soát chặt chẽ, bền vững hơn
![]() |
| Đại biểu Hoàng Văn Cường |
Những năm gần đây, Chính phủ, ngành Tài chính đã có những nỗ lực rất lớn và đạt được thành quả quan trọng trong cơ cấu lại NSNN và nợ công. Đặc biệt, năm 2016, khi Bộ Tài chính nghiên cứu trình Chính phủ, trình Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 07-NQ/TW về chủ trương, giải pháp cơ cấu lại NSNN, quản lý nợ công để bảo đảm nền tài chính quốc gia an toàn, bền vững, việc thực hiện cơ cấu lại NSNN và nợ công càng được thực hiện một cách quyết liệt hơn.
Nhờ đó, cơ cấu thu NSNN bền vững hơn, thu nội địa chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong tổng thu NSNN. Giai đoạn 2015 - 2019, thu nội địa chiếm khoảng 80% tổng thu ngân sách, cao hơn đáng kể so với tỷ lệ 68,7% trong giai đoạn 2010 - 2014. Kết quả trên đã đạt mục tiêu trước 5 năm theo Chiến lược tài chính đến năm 2020, cơ bản hoàn thành mục tiêu theo Nghị quyết 07-NQ/TW.
Về chi, nhìn chung chi NSNN được quản lý ngày càng chặt chẽ, tiết kiệm, góp phần nâng cao hiệu quả chi NSNN, tăng cường kỷ cương, kỷ luật tài chính. Nhờ đó, cân đối ngân sách ngày càng tích cực, nợ công được kiểm soát ở mức an toàn. Giai đoạn 2015 - 2019, mặc dù trong điều kiện có nhiều yếu tố không thuận lợi nhưng bội chi ngân sách đã đạt được những kết quả tích cực. Tỷ lệ bội chi giảm dần, năm 2019 là 3,4% GDP, đảm bảo mục tiêu của Nghị quyết 07-NQ/TW (đến năm 2020 còn dưới 3,44% GDP).
Cùng với đó, nợ công được kiểm soát chặt chẽ và nằm trong giới hạn theo các nghị quyết của Quốc hội, góp phần quan trọng trong việc tiếp tục cải thiện mức xếp hạng tín nhiệm quốc gia của Việt Nam. Nợ công, nợ chính phủ đến cuối năm 2019 ước đạt lần lượt là dưới 55% GDP và 48,5% GDP, nợ nước ngoài quốc gia khoảng 45,8% GDP. Nghị quyết của Quốc hội và Chính phủ quy định các tỷ lệ nợ công và nợ nước ngoài quốc gia các năm trong giai đoạn 2016 - 2020 tương ứng là không quá 65% GDP, không quá 54% GDP và không quá 50% GDP.
Nhìn chung, với sự chủ động, quyết liệt của ngành Tài chính, nợ công của nước ta được cơ cấu lại, các rủi ro tỷ giá, thanh khoản, lãi suất đối với danh mục nợ công cũng như rủi ro nghĩa vụ nợ dự phòng đối với ngân sách được kiểm soát tốt. Việc trả nợ luôn đảm bảo đúng hạn, không để xảy ra nợ quá hạn làm ảnh hưởng tới các cam kết, góp phần tăng cường hệ số tín nhiệm quốc gia. Công tác quản lý, sử dụng nợ công được siết chặt, tập trung cho đầu tư; giảm cho vay lại, giảm việc bảo lãnh cho các chủ thể kinh tế. Việc phát hành trái phiếu chính phủ theo nguyên tắc vừa sử dụng có hiệu quả ngân quỹ nhà nước, vừa đảm bảo nguồn thanh toán, chi trả kịp thời các khoản nợ gốc đến hạn và góp phần định hướng sự phát triển của thị trường.
| Nợ công, bội chi được kiểm soát tốt “Giai đoạn 2015 - 2019, mặc dù trong điều kiện có nhiều yếu tố không thuận lợi nhưng bội chi ngân sách đã đạt được những kết quả tích cực. Tỷ lệ bội chi giảm dần, năm 2019 là 3,4% GDP, đảm bảo mục tiêu của Nghị quyết 07-NQ/TW (đến năm 2020 còn dưới 3,44% GDP). Nợ công, nợ chính phủ đến cuối năm 2019 ước đạt lần lượt là dưới 55% GDP và 48,5% GDP, nợ nước ngoài quốc gia khoảng 45,8% GDP. Nghị quyết của Quốc hội và Chính phủ quy định các tỷ lệ nợ công và nợ nước ngoài quốc gia các năm trong giai đoạn 2016 - 2020 tương ứng là không quá 65% GDP, không quá 54% GDP và không quá 50% GDP. Nhìn chung, với sự chủ động, quyết liệt của ngành Tài chính, nợ công của nước ta được cơ cấu lại, các rủi ro tỷ giá, thanh khoản, lãi suất đối với danh mục nợ công cũng như rủi ro nghĩa vụ nợ dự phòng đối với ngân sách được kiểm soát tốt”. PGS.TS. Hoàng Văn Cường |
Hoàng Yến
Dành cho bạn
Đọc thêm
Cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng kinh phí quản lý hành chính
Kho bạc Nhà nước triển khai đồng bộ Nghị quyết Đại hội XIV trong toàn hệ thống
Bộ Tài chính nêu tên nhiều đơn vị chậm kiểm kê tài sản công
Dự trữ quốc gia cần hướng tới nguồn lực chiến lược bảo đảm an ninh kinh tế
TP. Hồ Chí Minh dùng công cụ tài chính để hướng dòng kiều hối đầu tư vào khoa học công nghệ
Bộ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Văn Thắng tiếp Tổng Giám đốc Ngân hàng ICBC Lưu Tuấn







