Đảm bảo hài hòa lợi ích, phù hợp thông lệ quốc tế

Văn Tuấn
Bộ Tài chính đang được Chính phủ giao xây dựng dự án Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt (sửa đổi). Phương pháp tính thuế nào hài hòa lợi ích giữa doanh nghiệp và Nhà nước, mở rộng cơ sở thuế, phù hợp với thông lệ quốc tế; đặc biệt hạn chế tiêu dùng các sản phẩm có hại cho sức khỏe là vấn đề đang được quan tâm. Phóng viên TBTCVN đã có cuộc trao đổi với bà Hương Vũ - Tổng giám đốc Công ty CP Tư vấn EY Việt Nam, xung quanh vấn đề này.
aa
Sửa Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt để phù hợp với thông lệ quốc tế Luật thuế tiêu thụ đặc biệt (sửa đổi): Định hướng tiêu dùng, bảo vệ sức khỏe người dân Sửa đổi Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt: Đảm bảo công bằng, phù hợp thông lệ quốc tế Áp thuế tiêu thụ đặc biệt đồ uống có đường để bảo vệ sức khỏe người dân
Đảm bảo hài hòa lợi ích, phù hợp thông lệ quốc tế
Nhiều quốc gia trên thế giới đều áp dụng thuế tiêu thụ đặc biệt đối với sản phẩm rượu, bia nhằm điều tiết sản xuất và tiêu dùng. Ảnh: TL minh họa

PV: Các công cụ thuế nói chung và sắc thuế tiêu thụ đặc biệt (TTĐB) nói riêng có ý nghĩa như thế nào với nền kinh tế, thưa bà?

Bà Hương Vũ: Các công cụ thuế có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế. Bằng công cụ thuế, Nhà nước có thể thúc đẩy hoạt động kinh tế này hay hạn chế hoạt động kinh tế khác trong nền kinh tế. Thuế tác động đến cung - cầu của thị trường, sẽ điều tiết hoạt động của thị trường, điều chỉnh chu kỳ kinh tế.

Bên cạnh vai trò tạo ra nguồn thu ngân sách ổn định lâu dài để đáp ứng nhu cầu chi tiêu công của Nhà nước, thuế còn đóng vai trò tái cơ cấu kinh tế, định hướng phát triển các ngành, lĩnh vực, thành phần kinh tế, phù hợp theo đúng định hướng của Nhà nước và đảm bảo công bằng xã hội thông qua việc phân phối lại thu nhập.

Thuế đánh một lần ở khâu sản xuất/nhập khẩu, khi luân chuyển qua khâu lưu thông sẽ không bị đánh thuế. Mục tiêu chính của sắc thuế TTĐB là nhằm điều chỉnh hành vi người tiêu dùng. Thuế TTĐB có diện đánh thuế hẹp, chỉ áp dụng đối với một số loại hàng hóa, dịch vụ mà Nhà nước muốn điều tiết tiêu dùng ở mức hợp lý, không khuyến khích sử dụng.

Đảm bảo hài hòa lợi ích, phù hợp thông lệ quốc tế
Bà Hương Vũ

PV: Bộ Tài chính đang được Chính phủ giao xây dựng dự án Luật Thuế TTĐB (sửa đổi). Điểm nổi bật là đề xuất bổ sung căn cứ tính thuế TTĐB theo phương pháp thuế tuyệt đối, phương pháp thuế hỗn hợp, bên cạnh phương pháp tương đối truyền thống. Bà có thể cho biết, đâu là ưu và nhược điểm của các phương pháp tính thuế nêu trên?

Bà Hương Vũ: Phương pháp tính thuế tuyệt đối là đánh mức thuế tuyệt đối trên một lượng hàng hóa, dịch vụ chịu thuế. Còn phương pháp tính thuế hỗn hợp kết hợp cả cách tính thuế theo tỷ lệ phần trăm và mức thuế tuyệt đối. Mỗi phương pháp đều có những ưu điểm và nhược điểm nhất định. Trên thế giới, tùy mục tiêu kinh tế - xã hội và đặc thù thị trường của các hàng hóa dịch vụ cần điều tiết sản xuất, tiêu dùng, các quốc gia sẽ lựa chọn áp dụng linh hoạt phương pháp tính thuế TTĐB phù hợp với điều kiện cụ thể của quốc gia mình.

Thuế tương đối có tính chất lũy tiến, áp dụng trên giá bán ra, giá cung ứng dịch vụ. Vì vậy, sản phẩm có giá bán càng cao thì số thuế TTĐB phải nộp càng lớn. Về khía cạnh điều tiết thị trường, khi tính thuế theo tỷ lệ phần trăm thuế trên giá bán sẽ tạo ra sự công bằng tương đối cho các phân khúc hàng hóa, dịch vụ trên thị trường vì người mua sẵn sàng trả mức giá nào thì cũng sẵn sàng trả mức thuế tương ứng.

Cách tính thuế này tạo sự linh hoạt trong việc điều tiết tiêu dùng tương ứng với mức thu nhập. Do đó, phương pháp tính thuế tương đối thường được sử dụng tại các quốc gia mà phân khúc hàng hóa, dịch vụ chịu thuế TTĐB trên thị trường được phân loại rõ rệt, sản phẩm cùng loại nhưng giá bán có sự khác biệt lớn.

Cũng theo phương pháp này, thuế sẽ tự điều chỉnh theo lạm phát, chính phủ không phải thường xuyên điều chỉnh mức thuế suất theo ảnh hưởng của lạm phát. Tuy nhiên, mặt hạn chế của phương pháp này là việc tính thuế căn cứ vào giá bán, nên có thể gia tăng chi phí quản lý của Nhà nước do phải kiểm soát giá cả và cũng khó dự đoán nguồn thu ngân sách.

Còn phương pháp tính thuế tuyệt đối được áp dụng dựa trên lượng hàng hóa, dịch vụ chịu thuế và áp dụng mức thuế cố định đối với mỗi đơn vị sản lượng của một loại sản phẩm có các tính chất tương tự. Phương pháp tính thuế tuyệt đối được sử dụng phổ biến ở các nước phát triển tại châu Âu.

Hiện nay, một số nước trong khu vực ASEAN cũng đã áp dụng cách tính thuế này đối với các mặt hàng như thuốc lá, rượu bia. Phương pháp thuế tuyệt đối khi áp dụng sẽ ảnh hưởng tức thì đến hành vi tiêu dùng, đặc biệt đối với nhóm mặt hàng ở phân khúc phổ thông giá thấp.

Đảm bảo hài hòa lợi ích, phù hợp thông lệ quốc tế
Ảnh minh họa

Khi áp dụng thuế tuyệt đối, mỗi đơn vị sản phẩm sản xuất/ nhập khẩu bán ra sẽ chịu một khoản thuế như nhau như một mức giá tối thiểu mà không phân biệt phân khúc của sản phẩm và giá bán sản phẩm tương ứng. Theo đó, trên phương diện thị trường, các sản phẩm ở phân khúc giá cao sẽ có lợi thế cạnh tranh hơn vì giá bán sẽ tăng lên ít hơn so với cách tính thuế theo tỷ lệ phần trăm. Trong khi đó, các sản phẩm ở phân khúc giá trung bình và thấp, giá bán sẽ tăng lên nhiều hơn.

Còn đối với cách tính thuế hỗn hợp là sự kết hợp giữa hai phương thức tính thuế tương đối và thuế tuyệt đối. Phương thức này kết hợp được những ưu điểm của cả hai phương thức trên, nhưng việc kết hợp cũng dẫn đến việc tính toán có thể phức tạp hơn và khó dự tính số thu ngân sách. Một số quốc gia sử dụng phương pháp này như một bước chuyển trung gian trước khi thay đổi từ phương pháp tương đối sang phương pháp tuyệt đối.

PV: Các nước trên thế giới áp dụng thuế TTĐB đối với ngành rượu, bia như thế nào, bà có khuyến nghị gì?

Bà Hương Vũ: Nhiều quốc gia trên thế giới đều áp dụng thuế TTĐB đối với sản phẩm rượu, bia nhằm điều tiết sản xuất và tiêu dùng, hạn chế lạm dụng đồ uống có cồn để bảo vệ sức khoẻ người tiêu dùng. Trong đó, các quốc gia cũng sử dụng các phương pháp tính thuế khác nhau tùy theo tình hình cụ thể của mỗi quốc gia.

Hiện nay, có một số ý kiến đề xuất Việt Nam nên nghiên cứu, áp dụng phương pháp tính thuế tuyệt đối hoặc thuế hỗn hợp đối với các sản phẩm rượu, bia như một số quốc gia trên thế giới đang áp dụng. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, thị trường rượu, bia của Việt Nam có những đặc điểm rất khác biệt so với các quốc gia trên thế giới. Vì vậy, việc lựa chọn áp dụng phương pháp tính thuế nào phải được các nhà làm chính sách nghiên cứu, tính toán cẩn trọng và đánh giá kỹ lưỡng, để ít gây ảnh hưởng nhất đến các doanh nghiệp nhưng đạt được mục tiêu chính sách.

PV: Xin cảm ơn bà!

Huy động nguồn lực bao gồm cả phương án tăng thuế tiêu thụ đặc biệt

Nghị quyết 43/2022/QH15 của Quốc hội về chính sách tài khóa, tiền tệ hỗ trợ chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội, trong đó đã đưa ra phương hướng huy động nguồn lực bao gồm cả việc xây dựng phương án tăng thuế tiêu thụ đặc biệt đối với mặt hàng cần hạn chế tiêu dùng...

Theo đó, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 155/QĐ-TTg giao Bộ Tài chính nghiên cứu đề xuất mức thuế phù hợp với các sản phẩm đồ uống có đường, các thực phẩm không có lợi cho sức khỏe và các sản phẩm kinh doanh có điều kiện để hạn chế các sản phẩm không có lợi cho sức khỏe.

Văn Tuấn

Đọc thêm

Chính sách thuế mới tạo đà cho hộ kinh doanh phát triển bền vững

Chính sách thuế mới tạo đà cho hộ kinh doanh phát triển bền vững

TS. Phan Phương Nam - Phó Trưởng khoa Luật Thương mại (Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh) nhấn mạnh, công tác tuyên truyền, hỗ trợ cần được chú trọng, để chính sách thuế đối với hộ kinh doanh phát huy tối đa hiệu quả quản lý nhà nước, đồng thời tạo đà phát triển bền vững cho khu vực kinh tế cá thể.
Giảm thuế nhập khẩu xăng dầu về 0%: Hỗ trợ kịp thời, nhưng cần thêm “bộ đệm” chính sách

Giảm thuế nhập khẩu xăng dầu về 0%: Hỗ trợ kịp thời, nhưng cần thêm “bộ đệm” chính sách

Theo PGS.TS Ngô Trí Long (Hiệp hội Tư vấn tài chính Việt Nam), việc giảm thuế nhập khẩu xăng dầu về 0% đến hết tháng 4/2026 là một giải pháp tài khóa đúng lúc, hợp lý và có tác dụng giảm áp lực, nhưng để ổn định thị trường một cách bền vững, thì vẫn phải đi cùng các công cụ khác, chứ không thể dựa riêng vào giảm thuế.
Chính sách tài khóa tiếp tục tạo động lực cho tăng trưởng bền vững

Chính sách tài khóa tiếp tục tạo động lực cho tăng trưởng bền vững

ThS. Lê Thị Mai Liên - Trưởng ban Kinh tế vĩ mô và dự báo, Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính (Bộ Tài chính) cho rằng, cần phối hợp đồng bộ các động lực, để nền kinh tế có thêm dư địa thúc đẩy tăng trưởng nhanh và bền vững trong thời gian tới.
Tăng “sức đề kháng” chuỗi cung ứng trước biến động địa chính trị Trung Đông

Tăng “sức đề kháng” chuỗi cung ứng trước biến động địa chính trị Trung Đông

Trả lời phóng viên, TS. Nguyễn Sơn - Giảng viên ngành quản lý chuỗi cung ứng và logistics, Đại học RMIT Việt Nam cho rằng, rủi ro địa chính trị tại Trung Đông đang tác động tới thương mại và vận tải quốc tế. Việc tăng “sức đề kháng” chuỗi cung ứng sẽ là yếu tố then chốt giúp doanh nghiệp Việt Nam duy trì lợi thế cạnh tranh trong bối cảnh bất ổn toàn cầu.
Chứng khoán Việt có điểm tựa từ nền tảng vĩ mô và triển vọng nâng hạng

Chứng khoán Việt có điểm tựa từ nền tảng vĩ mô và triển vọng nâng hạng

Theo ông Đinh Quang Hinh - Trưởng bộ phận Vĩ mô và Chiến lược Thị trường, Công ty Chứng khoán VNDIRECT, căng thẳng tại Trung Đông và đà tăng mạnh của giá dầu đã tác động tới tâm lý nhà đầu tư trên thị trường tài chính. Tuy vậy, nền tảng kinh tế ổn định, dư địa chính sách và triển vọng nâng hạng vẫn được kỳ vọng giúp chứng khoán Việt Nam duy trì sự cân bằng trước các biến động bên ngoài.
Biến động Trung Đông và bài toán ứng phó của doanh nghiệp logistics

Biến động Trung Đông và bài toán ứng phó của doanh nghiệp logistics

Ông Phạm Quang Long - Giám đốc kinh doanh và phát triển thị trường, Công ty Allied Movers tại Việt Nam cho rằng, xung đột tại Trung Đông tác động tới vận tải biển và hàng không quốc tế, làm gia tăng chi phí và rủi ro logistics. Theo đó, Việt Nam cần củng cố hạ tầng và năng lực logistics để tận dụng cơ hội trong cấu trúc thương mại mới. Về phía doanh nghiệp, cần chủ động thích ứng và có chiến lược kinh doanh phù hợp.
Chủ động xây dựng kịch bản ứng phó với tác động từ xung đột tại Trung Đông

Chủ động xây dựng kịch bản ứng phó với tác động từ xung đột tại Trung Đông

Theo TS. Nguyễn Sơn - giảng viên ngành quản lý chuỗi cung ứng và logistics, Đại học RMIT Việt Nam, để giảm thiểu tác động từ xung đột tại Trung Đông, doanh nghiệp Việt cần chủ động rà soát hợp đồng quốc tế, đa dạng hóa nguồn cung nguyên liệu, điều chỉnh chiến lược logistics và xây dựng kịch bản ứng phó nếu xung đột kéo dài.
Dự báo diễn biến giá vàng khi xung đột Trung Đông “dậy sóng”

Dự báo diễn biến giá vàng khi xung đột Trung Đông “dậy sóng”

Xung đột tại Trung Đông đang khiến thị trường tài chính toàn cầu biến động mạnh, trong đó, vàng tiếp tục là tâm điểm chú ý của nhà đầu tư. TS. Lê Bá Chí Nhân - chuyên gia kinh tế cao cấp cho rằng, biến động quốc tế ngày càng lớn, nếu thiếu cơ chế giao dịch minh bạch, rủi ro đầu cơ và chênh lệch giá vàng sẽ lặp lại. Vì vậy, cần sớm hình thành sàn giao dịch vàng quốc gia và mở rộng nguồn cung theo lộ trình có kiểm soát.
Xem thêm