Doanh nghiệp bảo hiểm lỗ lớn sau bão lũ không chỉ toàn gam màu “xám”

Ánh Tuyết
Lợi nhuận của nhiều doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ niêm yết sụt giảm tới 50% quý cuối năm 2025, khi bão lũ liên tiếp đẩy tỷ lệ bồi thường tăng vọt. Trao đổi với phóng viên, ông Trần Nguyên Đán - Viện trưởng Học viện Đào tạo Bảo hiểm và Quản trị rủi ro tài chính (IFRM) cho rằng, việc thua lỗ trong một năm xảy ra biến cố lớn là điều bình thường với ngành Bảo hiểm, thậm chí doanh nghiệp chấp nhận lỗ trong năm thiên tai nghiêm trọng chưa hẳn là tín hiệu tiêu cực.
aa

PV: Ngoại trừ Bảo hiểm Bảo Việt do chưa bóc tách được đóng góp lợi nhuận giữa mảng nhân thọ và phi nhân thọ, tính chung các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ niêm yết ghi nhận lợi nhuận quý IV/2025 giảm tới 50% so với cùng kỳ. Theo ông, các đợt bão lũ liên tiếp đã tác động như thế nào tới kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp?

Doanh nghiệp bảo hiểm lỗ lớn sau bão lũ không chỉ toàn gam màu “xám”
Ông Trần Nguyên Đán

Ông Trần Nguyên Đán: Doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ có lợi nhuận chủ yếu từ hoạt động đầu tư tài chính, nên thường phải mất thời gian dài mới tạo ra lợi nhuận đáng kể. Trong khi đó, doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ mang tính chất “mì ăn liền”, năm nào hạch toán kết quả năm đó, do phần lớn sản phẩm chỉ có thời hạn ngắn, thường là một năm, nên doanh thu và chi phí phát sinh sẽ được ghi nhận ngay trong năm đó. Chỉ một số ít nghiệp vụ, như bảo hiểm cho các dự án lớn, mới kéo dài nhiều năm.

Vì vậy, lợi nhuận của doanh nghiệp phi nhân thọ bám sát tình hình chi trả bồi thường, nếu chi trả tăng mạnh thì lợi nhuận sẽ giảm tương ứng. Trong khi đó, hoạt động đầu tư của khối này không quá đa dạng và không đóng vai trò quyết định đến kết quả kinh doanh như doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ.

Khi một doanh nghiệp phi nhân thọ báo lỗ, xem xét trước tiên là năm đó có xảy ra nhiều sự kiện gây tổn thất lớn hay không, đặc biệt là bão lũ. Tại Việt Nam, bão lũ thường gây thiệt hại nặng nhất với ô tô, nhà ở, nhà xưởng và các công trình sản xuất…, tức nhóm nghiệp vụ bảo hiểm tài sản.

Vì vậy, những doanh nghiệp có tỷ trọng doanh thu cao ở mảng bảo hiểm tài sản thường sẽ chịu tác động mạnh hơn về bồi thường và lợi nhuận trong các năm thiên tai. Tuy nhiên, trong ngành bảo hiểm vẫn có quan niệm “chín năm bù một năm” theo chu kỳ dài, cùng với quỹ dự phòng dao động lớn để hấp thụ các cú sốc.

PV: Dù danh mục đầu tư nhóm doanh nghiệp phi nhân thọ kém đa dạng và quy mô nhỏ hơn so với khối nhân thọ, nhưng trong quý IV/2025, khi lãi gộp từ hoạt động kinh doanh bảo hiểm cốt lõi suy giảm mạnh, thu nhập tài chính lại tăng khoảng 30% (trừ Bảo Việt). Theo ông, vai trò của hoạt động đầu tư tài chính trong việc hỗ trợ lợi nhuận doanh nghiệp thể hiện ra sao giai đoạn khó khăn?

Ông Trần Nguyên Đán: Với doanh nghiệp phi nhân thọ, rủi ro có thể biến động rất lớn, đặc biệt trong những năm xảy ra bão lũ hay tổn thất diện rộng. Chính vì vậy, tài sản đầu tư của doanh nghiệp phi nhân thọ buộc phải có tính thanh khoản cao, để sẵn sàng đáp ứng các nhu cầu chi trả bồi thường đột xuất.

Do yêu cầu đó, các doanh nghiệp phi nhân thọ thường không đầu tư mạnh vào trái phiếu doanh nghiệp, đặc biệt là trái phiếu bất động sản, dù lợi suất có thể cao, song khi phát sinh nhu cầu chi trả khẩn cấp, việc chuyển đổi thành tiền có thể gặp khó.

Thay vào đó, họ phụ thuộc vào các tài sản có tính thanh khoản cao như: chứng chỉ tiền gửi, tiền gửi ngân hàng và trái phiếu Chính phủ, vì có thể chuyển đổi nhanh nhất. Tuy nhiên, tính thanh khoản cao đồng nghĩa với lợi suất không cao, phản ánh sự đánh đổi giữa lợi nhuận và thanh khoản.

Các doanh nghiệp phi nhân thọ vận hành song song hai trụ cột: hoạt động bảo hiểm cốt lõi và hoạt động đầu tư tài chính. Chính hoạt động đầu tư tài chính đóng vai trò san sẻ khó khăn trong những năm bồi thường tăng mạnh, góp phần cân bằng lại kết quả kinh doanh. Lợi nhuận từ đầu tư tài chính sẽ giúp giảm bớt tác động tiêu cực khi bồi thường gốc gia tăng.

Doanh nghiệp bảo hiểm lỗ lớn sau bão lũ không chỉ toàn gam màu “xám”
Nguồn: Tổng hợp từ báo cáo tài chính của các doanh nghiệp. Đồ họa: Ánh Tuyết

PV: Mức chi bồi thường cao thể hiện vai trò đồng hành và chia sẻ rủi ro với khách hàng, nhưng cũng làm gia tăng chi phí và bào mòn lợi nhuận. Doanh nghiệp phi nhân thọ nên cân đối giữa hiệu quả kinh doanh và trách nhiệm nhân văn thế nào, thưa ông?

Ông Trần Nguyên Đán: Thực tế cho thấy, luôn tồn tại mâu thuẫn lợi ích đặc thù của ngành bảo hiểm phi nhân thọ giữa khách hàng và cổ đông. Khi doanh nghiệp bồi thường nhiều, bồi thường tốt, khách hàng được lợi; song cổ đông khó tránh khỏi thiệt thòi phần nào.

Trong những năm xảy ra rủi ro lớn như bão lũ, nếu một công ty bảo hiểm có doanh số lớn, mà vẫn báo lãi cao thì trong mắt người dân không hẳn là hình ảnh tích cực.

Vì vậy, khi bị lỗ, năm sau doanh nghiệp thường tính toán lại để cắt giảm chi phí, điều chỉnh chi phí vận hành hoặc một phần chi phí khai thác. Thực tế, doanh nghiệp thường tốn rất nhiều chi phí để tuyển dụng khách hàng mới, nhưng khi khách hàng đã được chi trả bồi thường đầy đủ, mức độ trung thành sẽ cao hơn. Cách chăm sóc hiệu quả nhất chính là bồi thường tốt. Khi chi trả minh bạch và kịp thời, khách hàng sẽ tự động tái tục, không cần tốn quá nhiều chi phí quảng bá hay ưu đãi bên ngoài.

PV: Sau cú sốc bồi thường tăng cao, ông dự báo về phí bảo hiểm và phí tái bảo hiểm năm 2026 và các năm tới sẽ chịu tác động như thế nào, nhất là khi rủi ro bão lũ, thiên tai được dự báo gia tăng?

Ông Trần Nguyên Đán: Biến đổi khí hậu tác động trực tiếp đến quỹ chi bồi thường. Những năm gần đây, chi bồi thường tăng mạnh và chắc chắn sẽ thiết lập mặt bằng phí bảo hiểm mới.

Tuy nhiên, phí bảo hiểm gốc không tăng đột biến, vì khi định phí phi nhân thọ không lấy chi bồi thường của năm hiện tại làm cơ sở cho năm sau, mà áp dụng phương pháp tính trung bình trượt, thường dựa trên dữ liệu bình quân khoảng 10 năm.

Khi một năm có tổn thất lớn như năm 2025 được đưa vào chuỗi tính toán, mức bình quân sẽ tăng lên, nhưng được phân bổ dần theo thời gian, nhờ đó, phí năm 2026 chỉ tăng nhẹ chứ không đột biến. Như vậy, ngành phi nhân thọ có cơ chế dàn trải tổn thất theo thời gian, cùng với quỹ dự phòng dao động lớn được trích lập nhiều năm, có thể sử dụng khi xảy ra biến cố lớn.

Nhiều khả năng năm 2026, tình hình bão lũ vẫn diễn biến phức tạp do tác động của biến đổi khí hậu. Theo các báo cáo của Swiss Re, thế giới được phân chia theo bản đồ rủi ro thiên tai; khu vực nào rủi ro cao thì phải trả phí tái bảo hiểm cao hơn.

Khi phí tái bảo hiểm tăng, doanh nghiệp bảo hiểm sẽ bị ảnh hưởng lợi nhuận, vì phải nhượng lại nhiều phí hơn cho nhà tái bảo hiểm, khiến phần doanh thu giữ lại bị thu hẹp. Tuy nhiên, tái bảo hiểm vẫn rất cần thiết vì giúp chia sẻ rủi ro và giảm bớt số tiền bồi thường mà doanh nghiệp phải tự gánh khi xảy ra tổn thất lớn.

Vì vậy, nếu phí bảo hiểm gốc không được điều chỉnh tăng tương ứng để bù đắp chi phí tái bảo hiểm cao hơn, lợi nhuận của ngành bảo hiểm có thể tiếp tục chịu áp lực và suy giảm.

Trong trường hợp các nhà tái bảo hiểm lớn cùng nâng phí đồng bộ, các doanh nghiệp trong nước buộc phải điều chỉnh mặt bằng phí tương ứng, qua đó, hạn chế cạnh tranh về giá. Khách hàng cũng khó phản ứng khi rủi ro thực tế gia tăng.

Nhìn chung, biến động ngắn hạn sẽ được “làm mềm” nhờ cơ chế trung bình trượt 10 năm, nhưng nếu bão lũ tiếp tục gia tăng trong giai đoạn 2026 - 2027, chuỗi số liệu bình quân sẽ dần cao lên và hình thành một mặt bằng giá mới. Mặt bằng này sẽ tăng dần theo thời gian, chứ không tăng đột biến trong một năm.

PV: Xin cảm ơn ông!

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Chính sách thuế mới tạo đà cho hộ kinh doanh phát triển bền vững

Chính sách thuế mới tạo đà cho hộ kinh doanh phát triển bền vững

TS. Phan Phương Nam - Phó Trưởng khoa Luật Thương mại (Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh) nhấn mạnh, công tác tuyên truyền, hỗ trợ cần được chú trọng, để chính sách thuế đối với hộ kinh doanh phát huy tối đa hiệu quả quản lý nhà nước, đồng thời tạo đà phát triển bền vững cho khu vực kinh tế cá thể.
Giảm thuế nhập khẩu xăng dầu về 0%: Hỗ trợ kịp thời, nhưng cần thêm “bộ đệm” chính sách

Giảm thuế nhập khẩu xăng dầu về 0%: Hỗ trợ kịp thời, nhưng cần thêm “bộ đệm” chính sách

Theo PGS.TS Ngô Trí Long (Hiệp hội Tư vấn tài chính Việt Nam), việc giảm thuế nhập khẩu xăng dầu về 0% đến hết tháng 4/2026 là một giải pháp tài khóa đúng lúc, hợp lý và có tác dụng giảm áp lực, nhưng để ổn định thị trường một cách bền vững, thì vẫn phải đi cùng các công cụ khác, chứ không thể dựa riêng vào giảm thuế.
Chính sách tài khóa tiếp tục tạo động lực cho tăng trưởng bền vững

Chính sách tài khóa tiếp tục tạo động lực cho tăng trưởng bền vững

ThS. Lê Thị Mai Liên - Trưởng ban Kinh tế vĩ mô và dự báo, Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính (Bộ Tài chính) cho rằng, cần phối hợp đồng bộ các động lực, để nền kinh tế có thêm dư địa thúc đẩy tăng trưởng nhanh và bền vững trong thời gian tới.
Tăng “sức đề kháng” chuỗi cung ứng trước biến động địa chính trị Trung Đông

Tăng “sức đề kháng” chuỗi cung ứng trước biến động địa chính trị Trung Đông

Trả lời phóng viên, TS. Nguyễn Sơn - Giảng viên ngành quản lý chuỗi cung ứng và logistics, Đại học RMIT Việt Nam cho rằng, rủi ro địa chính trị tại Trung Đông đang tác động tới thương mại và vận tải quốc tế. Việc tăng “sức đề kháng” chuỗi cung ứng sẽ là yếu tố then chốt giúp doanh nghiệp Việt Nam duy trì lợi thế cạnh tranh trong bối cảnh bất ổn toàn cầu.
Chứng khoán Việt có điểm tựa từ nền tảng vĩ mô và triển vọng nâng hạng

Chứng khoán Việt có điểm tựa từ nền tảng vĩ mô và triển vọng nâng hạng

Theo ông Đinh Quang Hinh - Trưởng bộ phận Vĩ mô và Chiến lược Thị trường, Công ty Chứng khoán VNDIRECT, căng thẳng tại Trung Đông và đà tăng mạnh của giá dầu đã tác động tới tâm lý nhà đầu tư trên thị trường tài chính. Tuy vậy, nền tảng kinh tế ổn định, dư địa chính sách và triển vọng nâng hạng vẫn được kỳ vọng giúp chứng khoán Việt Nam duy trì sự cân bằng trước các biến động bên ngoài.
Biến động Trung Đông và bài toán ứng phó của doanh nghiệp logistics

Biến động Trung Đông và bài toán ứng phó của doanh nghiệp logistics

Ông Phạm Quang Long - Giám đốc kinh doanh và phát triển thị trường, Công ty Allied Movers tại Việt Nam cho rằng, xung đột tại Trung Đông tác động tới vận tải biển và hàng không quốc tế, làm gia tăng chi phí và rủi ro logistics. Theo đó, Việt Nam cần củng cố hạ tầng và năng lực logistics để tận dụng cơ hội trong cấu trúc thương mại mới. Về phía doanh nghiệp, cần chủ động thích ứng và có chiến lược kinh doanh phù hợp.
Chủ động xây dựng kịch bản ứng phó với tác động từ xung đột tại Trung Đông

Chủ động xây dựng kịch bản ứng phó với tác động từ xung đột tại Trung Đông

Theo TS. Nguyễn Sơn - giảng viên ngành quản lý chuỗi cung ứng và logistics, Đại học RMIT Việt Nam, để giảm thiểu tác động từ xung đột tại Trung Đông, doanh nghiệp Việt cần chủ động rà soát hợp đồng quốc tế, đa dạng hóa nguồn cung nguyên liệu, điều chỉnh chiến lược logistics và xây dựng kịch bản ứng phó nếu xung đột kéo dài.
Dự báo diễn biến giá vàng khi xung đột Trung Đông “dậy sóng”

Dự báo diễn biến giá vàng khi xung đột Trung Đông “dậy sóng”

Xung đột tại Trung Đông đang khiến thị trường tài chính toàn cầu biến động mạnh, trong đó, vàng tiếp tục là tâm điểm chú ý của nhà đầu tư. TS. Lê Bá Chí Nhân - chuyên gia kinh tế cao cấp cho rằng, biến động quốc tế ngày càng lớn, nếu thiếu cơ chế giao dịch minh bạch, rủi ro đầu cơ và chênh lệch giá vàng sẽ lặp lại. Vì vậy, cần sớm hình thành sàn giao dịch vàng quốc gia và mở rộng nguồn cung theo lộ trình có kiểm soát.
Xem thêm