Doanh nghiệp cần lưu ý gì khi áp dụng IFRS 9 trong trích lập dự phòng?

Hà My
Dịch Covid-19 đã làm nổi bật vai trò của mô hình tổn thất dự kiến theo Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế IFRS 9 trong việc phản ánh tình hình tài chính của doanh nghiệp một cách chính xác hơn. Mức độ hoàn thiện của mô hình ước tính tổn thất tín dụng dự kiến càng cao, càng đem lại cho các doanh nghiệp những đánh giá toàn diện và kịp thời hơn với các rủi ro tổn thất; từ đó, có những chiến lược phù hợp trong giai đoạn phục hồi và phát triển sau đại dịch.
aa
Lập Đề án nghiên cứu triển khai IFRS 9 cho ngân hàng Hiểu đúng về hợp nhất kinh doanh dưới sự kiểm soát chung

Covid-19 và yêu cầu mới về trích lập dự phòng

Hiện nay, các doanh nghiệp tại Việt Nam đang tuân thủ quy định về trích lập dự phòng trong Thông tư 200/2014/TT-BTC của Bộ Tài chính đối với nhóm doanh nghiệp ngoài khối tổ chức tín dụng và Thông tư số 11/2021/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước đối với các tổ chức tín dụng. Các quy định này đều dựa trên nguyên tắc tổn thất đã phát sinh, tức là dự phòng được trích khi các khoản phải thu đã quá hạn hoặc có dấu hiệu rõ ràng về khả năng vỡ nợ của đối tác.

Doanh nghiệp cần lưu ý gì khi áp dụng IFRS 9 trong trích lập dự phòng?
Ảnh minh họa

Chia sẻ về IFRS 9, ông Phạm Nam Phong - Phó Tổng giám đốc Dịch vụ kiểm toán & đảm bảo của Deloitte Việt Nam cho biết, khi so sánh với Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS), các khái niệm và cách thức đo lường hiện tại khá tương đồng với Chuẩn mực kế toán quốc tế IAS 39. Tuy nhiên, chuẩn mực này đã được thay thế bởi IFRS 9 có hiệu lực từ năm 2018.

IFRS 9 giới thiệu khái niệm dự phòng tổn thất dự kiến như một hệ quả của khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm 2007 - 2009, khi phản ứng của các doanh nghiệp trong việc xác định và đo lường tổn thất đã bộc lộ rõ những hạn chế của hệ thống chuẩn mực cũ.

Theo ông Phong, mô hình tổn thất tín dụng dự kiến đã đặt ra những yêu cầu mới, đòi hỏi các doanh nghiệp bước ra ngoài giới hạn của những tổn thất tín dụng đã phát sinh, để hướng tới tích hợp các số liệu quá khứ và hiện tại; đồng thời đưa các thông tin mang tính dự báo vào mô hình ước tính với ba giai đoạn, để có thể ghi nhận sớm hơn và đầy đủ hơn các khoản dự phòng tổn thất.

Cũng theo chuyên gia của Deloitte, đại dịch Covid-19 bùng nổ, kéo theo cuộc khủng hoảng kinh tế và y tế sâu rộng trên toàn cầu. Tuy nhiên, chính cuộc khủng hoảng này đã làm nổi bật vai trò của mô hình tổn thất dự kiến theo IFRS 9 trong việc phản chiếu tình hình tài chính của doanh nghiệp một cách chính xác hơn.

Mức độ hoàn thiện của mô hình ước tính tổn thất tín dụng dự kiến càng cao, càng đem lại cho doanh nghiệp những đánh giá toàn diện và kịp thời hơn với các rủi ro tổn thất; từ đó giúp cho doanh nghiệp có những chiến lược phù hợp trong giai đoạn phục hồi và phát triển sau đại dịch.

Những lưu ý với doanh nghiệp

Tuy nhiên, việc xây dựng mô hình tổn thất tín dụng dự kiến để phản ánh một cách khách quan và toàn diện trong giai đoạn bất ổn cũng đặt ra cho doanh nghiệp nhiều thách thức. Các doanh nghiệp cần phải xem xét lại ảnh hưởng các kịch bản kinh tế, xác suất xảy ra của từng kịch bản và những thay đổi về dự báo kinh tế vĩ mô tới các chỉ số xác suất vỡ nợ (PD), tỷ trọng tổn thất ước tính (LGD) và việc phân giai đoạn (Staging).

Một mô hình xác định tổn thất tối ưu sẽ giúp doanh nghiệp có thể xác định ước tính tổn thất bám sát với thực tiễn kinh doanh hiện tại và tương lai, đảm bảo tuân thủ các yêu cầu của chuẩn mực, phù hợp với cơ chế hoạt động và các rủi ro của doanh nghiệp, đồng thời hạn chế sự tốn kém về tài nguyên và nguồn lực.

Các doanh nghiệp cần quan tâm đến việc xây dựng một quy trình xác định tổn thất tín dụng phù hợp, để có thể đón đầu những cơ hội và tránh được thử thách trong thời gian tới. Theo ông, các doanh nghiệp cần xem xét một số vấn đề cụ thể khi lên kế hoạch áp dụng mô hình tổn thất tín dụng dự kiến.

Trước hết là chất lượng của dữ liệu đầu vào cần đầy đủ, toàn diện và kịp thời. Dữ liệu đầu vào đóng vai trò tiên quyết trong sự chính xác của mô hình. Các doanh nghiệp thu thập dữ liệu sớm sẽ giúp hạn chế được những trở ngại khi áp dụng mô hình tổn thất tín dụng dự kiến.

Tiếp đó là việc tích hợp ảnh hưởng của các biến số kinh tế vĩ mô khi ước lượng dự phòng rủi ro tín dụng. Một số biến số phổ biến được sử dụng trong mô hình có thể kể tới như GDP, tỷ lệ thất nghiệp, tỷ lệ tăng trưởng của ngành và của khu vực địa lý hoạt động

Một yếu tố nữa doanh nghiệp cần lưu ý là các quy trình và kiểm soát để hỗ trợ duy trì tính hữu hiệu của mô hình. Trong quá trình tiếp cận và áp dụng mô hình tổn thất tín dụng dự kiến, các nhà quản trị cần trang bị những hiểu biết đầy đủ về chuẩn mực quốc tế nói chung và IFRS 9 nói riêng. Đồng thời, doanh nghiệp cũng cần làm chủ các yếu tố công nghệ và kỹ thuật, hướng tới sự đồng bộ trong quản lý các rủi ro.

Hà My

Đọc thêm

Ưu tiên đầu tư vốn ODA cho dự án trọng điểm có tác động lan tỏa, tạo đột phá

Ưu tiên đầu tư vốn ODA cho dự án trọng điểm có tác động lan tỏa, tạo đột phá

Đây là một trong những định hướng quan trọng được nêu trong Kế hoạch thực hiện Định hướng thu hút, quản lý và sử dụng vốn ODA và vốn vay ưu đãi nước ngoài giai đoạn 2026 - 2030 vừa được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 441/QĐ-TTg.
Cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng kinh phí quản lý hành chính

Cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng kinh phí quản lý hành chính

Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 75/2026/NĐ-CP ngày 16/3/2026 quy định chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về quản lý, sử dụng kinh phí quản lý hành chính. Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 1/5/2026.

Kho bạc Nhà nước triển khai đồng bộ Nghị quyết Đại hội XIV trong toàn hệ thống

Thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, hệ thống Kho bạc Nhà nước đang tích cực triển khai các nhiệm vụ, giải pháp nhằm cụ thể hóa các mục tiêu, yêu cầu đặt ra đối với lĩnh vực tài chính - ngân sách trong giai đoạn phát triển mới.
Bộ Tài chính nêu tên nhiều đơn vị chậm kiểm kê tài sản công

Bộ Tài chính nêu tên nhiều đơn vị chậm kiểm kê tài sản công

Bộ Tài chính vừa có Công văn số 3156/BTC-QLCS gửi các bộ, cơ quan trung ương và địa phương về việc tiếp tục đôn đốc thực hiện tổng kiểm kê tài sản công thời điểm 0h ngày 1/1/2026.
Dự trữ quốc gia cần hướng tới nguồn lực chiến lược bảo đảm an ninh kinh tế

Dự trữ quốc gia cần hướng tới nguồn lực chiến lược bảo đảm an ninh kinh tế

Hệ thống dự trữ quốc gia đang đứng trước yêu cầu phải tiếp tục hoàn thiện để đáp ứng tốt hơn nhiệm vụ bảo đảm an ninh kinh tế - xã hội trong bối cảnh mới. Việc sửa đổi, bổ sung Chiến lược Phát triển dự trữ quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 được đặt ra nhằm xây dựng hệ thống dự trữ theo hướng chủ động, linh hoạt và ứng phó kịp thời với các tình huống đột xuất, cấp bách.
TP. Hồ Chí Minh dùng công cụ tài chính để hướng dòng kiều hối đầu tư vào khoa học công nghệ

TP. Hồ Chí Minh dùng công cụ tài chính để hướng dòng kiều hối đầu tư vào khoa học công nghệ

TP. Hồ Chí Minh sẽ triển khai đồng bộ các công cụ tài chính để chuyển dịch dòng kiều hối từ tiêu dùng sang đầu tư sản xuất, ưu tiên các lĩnh vực khoa học - công nghệ, công nghiệp chế biến - chế tạo, đổi mới sáng tạo, năng lượng xanh và chuyển đổi số.
Bộ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Văn Thắng tiếp Tổng Giám đốc Ngân hàng ICBC Lưu Tuấn

Bộ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Văn Thắng tiếp Tổng Giám đốc Ngân hàng ICBC Lưu Tuấn

Ngày 17/3/2026, Ủy viên Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Bộ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Văn Thắng tiếp Đoàn công tác Ngân hàng Công Thương Trung Quốc (ICBC), do ông Liu Jun (Lưu Tuấn), Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Trung Quốc, Phó Chủ tịch Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc ICBC làm trưởng đoàn.
Bổ nhiệm ông Tạ Anh Tuấn giữ chức Thứ trưởng Bộ Tài chính

Bổ nhiệm ông Tạ Anh Tuấn giữ chức Thứ trưởng Bộ Tài chính

Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính vừa ký Quyết định số 450/QĐ-TTg ngày 17/3/2026 về việc điều động, bổ nhiệm ông Tạ Anh Tuấn - Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Lắk nhiệm kỳ 2021 - 2026 giữ chức Thứ trưởng Bộ Tài chính.
Xem thêm