Doanh nghiệp khu vực Asean chịu tác động mạnh bởi rào cản phi thuế quan

Văn Tuấn
Năm 2021, toàn thế giới có khoảng hơn 1.000 rào cản thương mại phi thuế quan, gây tác động lớn với thương mại toàn cầu. Năm 2024, 2025 có khoảng 300 - 500 biện pháp mang tính chất phân biệt đối xử thường niên, được một số quốc gia tung ra làm tăng số lượng các rào cản phi thuế quan và siết chặt các khuôn khổ quản lý khác. Doanh nghiệp khu vực Asean đang chịu tác động mạnh bởi rào cản phi thuế quan.
aa

Nhiều rào cản phi thuế quan ẩn dưới chính sách công

Chia sẻ tại Hội thảo “Gỡ rào cản phi thuế quan vì thịnh vượng chung ASEAN” do Báo Tài chính - Đầu tư phối hợp với Đại sứ quán New Zealand tại Việt Nam tổ chức mới đây, bà Nguyễn Mai Phương - Luật sư điều hành, Trưởng chi nhánh Hà Nội, Công ty Luật KPMG tại Việt Nam cho biết, thách thức phi thuế quan mà cộng đồng doanh nghiệp đang gặp phải, bắt đầu từ câu chuyện cụ thể về tranh chấp thương mại giữa Indonesia và Liên minh châu Âu (EU) liên quan đến mặt hàng dầu cọ (vụ DS 593).

Là thị trường tiêu thụ dầu cọ lớn, EU đã ban hành các chỉ thị về năng lượng tái tạo, nổi bật là RED II (Renewable Energy Directive II), trong đó đặt ra các tiêu chí bền vững cho các loại nhiên liệu sinh học, bao gồm việc hạn chế hoặc loại bỏ dần việc sử dụng dầu cọ làm nhiên liệu sinh học, dựa trên lập luận rằng việc sản xuất dầu cọ gây ra phá rừng và suy thoái môi trường, dẫn đến phát thải khí nhà kính cao.

Doanh nghiệp khu vực Asean chịu tác động mạnh bởi rào cản phi thuế quan
Bà Nguyễn Mai Phương chia sẻ tại hội thảo. Ảnh: Đức Thanh

Cụ thể, RED II giới hạn tỷ lệ nhiên liệu sinh học có nguồn gốc từ cây lương thực, trong đó có dầu cọ, chỉ được chiếm tối đa 7% trong tổng tiêu thụ năng lượng cuối cùng cho vận tải và đặt mục tiêu loại bỏ hoàn toàn các nhiên liệu có nguy cơ ILUC cao trước năm 2030, trừ khi doanh nghiệp chứng minh được không liên quan đến phá rừng hay sử dụng đất suy thoái.

Trong khi đó, Indonesia (nhà sản xuất và xuất khẩu dầu cọ lớn nhất thế giới) cho rằng, đây là một rào cản phi thuế quan (non-tariff barriers - NTBs) trá hình, một biện pháp phân biệt đối xử của EU nhằm bảo vệ ngành công nghiệp dầu thực vật của EU và hạn chế cạnh tranh từ dầu cọ.

Các biện pháp này đã cản trở việc xuất khẩu dầu cọ sang EU của Indonesia và khiến quốc gia này khiếu nại lên Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). WTO, mặc dù thừa nhận những lo ngại về môi trường của EU nhưng cũng cho biết mức giới hạn này không được áp dụng nhất quán và gây gánh nặng không cân xứng cho dầu cọ Indonesia.

Hiện vụ việc vẫn đang được WTO xem xét và kết quả sẽ có tác động đáng kể đến thương mại dầu cọ toàn cầu và quan hệ thương mại giữa hai bên.

Theo bà Mai Phương, câu chuyện trên là một minh chứng điển hình về việc NTBs đang trở thành một rào cản thương mại không nhỏ đối với cộng đồng doanh nghiệp, và NTBs có thể có những tác động bất hợp lý với các đối tác, các bên liên quan khi xảy ra các vụ việc.

Đại diện KPMG cũng cho hay, năm 2021 toàn thế giới có khoảng hơn 1.000 rào cản thương mại phi thuế quan, gây tác động rất lớn với thương mại toàn cầu. Năm 2024, 2025 có khoảng 300 - 500 biện pháp mang tính chất phân biệt đối xử thường niên, được một số quốc gia tung ra làm tăng số lượng các NTBs và siết chặt các khuôn khổ quản lý khác.

Nhấn mạnh thực tế hiện nay thuế quan đang được các quốc gia cắt giảm, bà Mai Phương cho biết, theo các hiệp định thương mại tự do (FTA), thuế quan gần như biến mất song đồng thời để lại những sản phẩm được "quản lý chặt" bởi các rào cản phi thương mại.

Ba thách thức các doanh nghiệp bị tác động bởi NTBs

Thứ nhất, quá nhiều thủ tục hành chính dẫn đến việc nhập khẩu bị chậm trễ, làm tăng chi phí bổ sung do thời gian lưu kho kéo dài; đôi khi không có sẵn tại chỗ.

Thứ hai, sự chậm trễ nhận được chứng nhận sự phù hợp của hàng hoá từ chính quyền các địa phương.

Thứ ba là các yêu cầu về mặt kỹ thuật kiểm tra, kiểm soát, nguyên tắc xuất xứ hàng hoá... khó thực hiện và thiếu đồng bộ.

Các nhà hoạch định chính sách, thiết kế lập pháp với các khuôn khổ mới, tạm gọi là những biện pháp vật chất của chính sách, liên quan chặt chẽ đến các khía cạnh mang tính chất địa chính trị của các quốc gia.

Trong đó, có những biện pháp NTBs mang tính chất bảo hộ rất cao, liên quan đến lợi ích của công chúng như vấn đề kinh tế, vấn đề môi trường, buộc các doanh nghiệp phải tuân thủ để các sản phẩm xuất nhập khẩu của họ có thể tương tác với các thị trường khác trong khu vực và trên thế giới.

"Đáng lưu ý, rất nhiều quy định phi thuế quan đang được "ẩn mình" dưới hình thức là các chính sách công và đây là một thách thức lớn đối với doanh nghiệp", bà Phương nhấn mạnh.

58% doanh nghiệp ASEAN bị tác động bởi rào cản phi thuế quan

Dẫn theo báo cáo APTIR 2019, đại diện của KPMG cho biết, khoảng 58% thương mại khu vực châu Á - Thái Bình Dương chịu ảnh hưởng bởi các NTBs.

Theo bà Phương, các NTBs phổ biến được quan sát là các biện pháp kỹ thuật, các nguyên tắc và các thủ tục tuỳ chỉnh, các hạn chế liên quan đến cạnh tranh trong thị trường, các hạn chế đối với dịch vụ, thuế nội bộ của các khoản phí... Ngoài ra, các NTBs khác liên quan đến sở hữu trí tuệ, thực hành mua sắm của Chính phủ, biện pháp tài chính và nhiều dạng thức của NTBs khác nữa.

Doanh nghiệp khu vực Asean chịu tác động mạnh bởi rào cản phi thuế quan
Toàn cảnh hội thảo. Ảnh: Chí Cường

Trong khu vực ASEAN, vị này cũng dẫn ra nhiều hình thức NTBs phổ biến hiện nay, bao gồm yêu cầu nội địa hóa dữ liệu như Luật Bảo vệ Dữ liệu cá nhân (PDP) của Indonesia năm 2022 yêu cầu dữ liệu công và tài chính phải lưu trữ trong nước hay Nghị định 53/2022/NĐ-CP của Việt Nam quy định tương tự với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

Bên cạnh đó là các yêu cầu chồng chéo về thử nghiệm và chứng nhận. Ví dụ, Philippines yêu cầu thuốc dù đã đạt chuẩn quốc tế vẫn phải thử nghiệm lâm sàng trong nước, hay Việt Nam không còn chấp nhận các báo cáo thử nghiệm quốc tế với sản phẩm ICT. Các yêu cầu về xuất xứ phức tạp mà nhiều nước đưa ra gây khó khăn cho nhà xuất khẩu khu vực cũng là "rào cản" thường thấy.

Tại Việt Nam, các doanh nghiệp nhập khẩu thường vướng phải tình trạng thời gian cấp phép kéo dài, chi phí lưu kho tăng cao, yêu cầu ghi nhãn phức tạp, bắt buộc nhiều thông tin trên nhãn, gây khó khăn cho hàng tiêu dùng.

Trong khi đó, doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam cũng gặp rào cản khi chứng nhận sản phẩm của Việt Nam không được đối tác công nhận, phải kiểm tra lại từ đầu, gây tốn kém và chậm trễ. Sự khác biệt lớn về tiêu chuẩn kiểm dịch thực vật, dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, hay yêu cầu xuất xứ... cũng khiến nhiều lô hàng bị ách tắc.

“Không thể loại bỏ hoàn toàn NTBs, nhưng các giải pháp thích ứng sẽ giúp các nhà xuất khẩu ASEAN sẵn sàng tuân thủ các NTBs nước ngoài”- bà Nguyễn Hoài Phương, Công ty Luật KPMG tại Việt Nam.

Từ góc nhìn của KPMG, sở dĩ có tình trạng này là vì "các quốc gia ASEAN có một sự hài hòa khá yếu giữa các tiêu chuẩn quốc gia và khu vực". Mặc dù có một hệ thống tiêu chuẩn đặc thù cho ASEAN, nhưng thực tế hệ thống này chỉ gọi là thông tin liên quan tới NTBs cũng như các hướng dẫn cho các quốc gia thành viên áp dụng như thế nào, các tuyên bố của NTBs như thế nào…

"Hệ thống này không phải lúc nào cũng được cập nhật và đôi khi không đủ rõ ràng để các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ vừa có thể hiểu biết và áp dụng. Nó cũng không được chia sẻ đầy đủ với các đối tác và các bên liên quan", bà Phương nhấn mạnh.

Theo Luật sư Nguyễn Mai Phương, để nới lỏng tác động của các rào cản phi thuế quan, trước hết cần xây dựng những giải pháp ban đầu của ASEAN để giải quyết các vấn đề liên quan tới NTBs.

Cụ thể, nên khuyến khích sử dụng Cổng thông tin thương mại ASEAN (là một kho lưu trữ thương mại) để cập nhật và chia sẻ chính sách, từ đó, tăng cường minh bạch hóa thông tin, không tạo thêm rào cản cho doanh nghiệp. Cùng với đó, cần áp dụng các nguyên tắc rõ ràng, hợp lý, minh bạch và không phân biệt đối xử khi ban hành NTBs mới.

Mỗi quốc gia cần cải thiện nội lực trong nước bằng cách thúc đẩy các sáng kiến của Chính phủ điện tử, tăng cường tự động hoá, đơn giản hóa quy trình cấp phép, tăng cường mức độ công nhận lẫn nhau về tiêu chuẩn.

Ngoài ra, cần chú trọng đào tạo, kết nối, hỗ trợ doanh nghiệp giúp các doanh nghiệp nhỏ và vừa hiểu hơn chính sách, khung pháp lý có liên quan. Điều này sẽ giúp nâng cao năng lực cho các doanh nghiệp trong việc hiểu và đáp ứng yêu cầu của thị trường xuất khẩu./.

Văn Tuấn

Đọc thêm

Đa dạng hóa kênh dẫn vốn đáp ứng nhu cầu đầu tư của nền kinh tế

Đa dạng hóa kênh dẫn vốn đáp ứng nhu cầu đầu tư của nền kinh tế

Khi nhu cầu vốn cho hạ tầng, công nghiệp và chuyển đổi xanh ngày càng lớn, mô hình phụ thuộc chủ yếu vào tín dụng ngân hàng đang bộc lộ những giới hạn. Trong bối cảnh đó, việc phát triển thị trường vốn và thu hút dòng vốn quốc tế không chỉ là giải pháp bổ sung, mà đang trở thành động lực then chốt để mở rộng nguồn lực, hướng tới mục tiêu tăng trưởng nhanh và bền vững.
Hải Phòng điều hành kinh tế - xã hội bám sát kịch bản tăng trưởng

Hải Phòng điều hành kinh tế - xã hội bám sát kịch bản tăng trưởng

Kinh tế - xã hội của TP. Hải Phòng luôn ghi nhận nhiều tín hiệu tích cực trên hầu hết các lĩnh vực, cơ bản bám sát kịch bản tăng trưởng đề ra.

TP. Hồ Chí Minh: Muốn tăng trưởng cao phải đổi cách phát triển

Trong bối cảnh kinh tế thế giới biến động và áp lực tăng trưởng ngày càng lớn, TP. Hồ Chí Minh đang đứng trước yêu cầu phải thay đổi mô hình phát triển. Những lợi thế của một trung tâm kinh tế lớn nhất cả nước vẫn lớn, nhưng nếu không tháo gỡ các nút thắt về thể chế, hạ tầng và năng lượng, Thành phố khó bứt phá để trở thành siêu đô thị đổi mới sáng tạo của khu vực.
Bộ Tài chính chủ động kịp thời, giữ ổn định kinh tế vĩ mô

Bộ Tài chính chủ động kịp thời, giữ ổn định kinh tế vĩ mô

Trước những diễn biến phức tạp của xung đột quân sự tại Trung Đông và nguy cơ tác động tới kinh tế toàn cầu, Bộ Tài chính đã nhanh chóng ban hành chỉ đạo yêu cầu toàn Ngành theo dõi sát tình hình, đánh giá đầy đủ các kịch bản tác động và chủ động đề xuất giải pháp điều hành phù hợp.
Chủ động thích ứng, thúc đẩy hoạt động xuất khẩu

Chủ động thích ứng, thúc đẩy hoạt động xuất khẩu

Thủ tướng Chính phủ vừa ký Công điện số 23/CĐ-TTg ngày 16/3/2026 chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương, tập đoàn, tổng công ty nhà nước tiếp tục thực hiện quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả các các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm để chủ động thích ứng linh hoạt với tình hình thế giới, khu vực, thúc đẩy hơn nữa hoạt động xuất khẩu.
Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa chuyển đổi số, phát triển hệ sinh thái số

Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa chuyển đổi số, phát triển hệ sinh thái số

Đề án chuyển đổi số các doanh nghiệp nhỏ và vừa giai đoạn 2026 - 2030 đặt mục tiêu đến năm 2030, có ít nhất 500.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa được hỗ trợ chuyển đổi số và phát triển hệ sinh thái số thông qua các hoạt động của đề án.
Thủ tướng chỉ đạo tiếp tục tháo gỡ các dự án tồn đọng, thúc đẩy tăng trưởng

Thủ tướng chỉ đạo tiếp tục tháo gỡ các dự án tồn đọng, thúc đẩy tăng trưởng

Ngày 16/3, tại trụ sở Chính phủ, Thủ tướng Phạm Minh Chính chủ trì cuộc họp của Thường trực Chính phủ cho ý kiến về một số nội dung quan trọng để tiếp tục tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc, các vấn đề, dự án tồn đọng, kéo dài, khơi thông, giải phóng, huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực, góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế từ 10% trở lên.
Quảng Ninh dự kiến thu hơn 15.600 tỷ đồng từ du lịch trong quý I/2026

Quảng Ninh dự kiến thu hơn 15.600 tỷ đồng từ du lịch trong quý I/2026

Bước vào năm 2026, Quảng Ninh tiếp tục khẳng định vị thế điểm đến hàng đầu khi đón hơn 6,2 triệu lượt khách trong quý I, doanh thu vượt 15.687 tỷ đồng. Những con số này cho thấy sức bật mạnh mẽ và triển vọng tăng trưởng tích cực của ngành du lịch Quảng Ninh.
Xem thêm
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0,20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80