Giá khí bán cho sản xuất điện vẫn thấp hơn giá thị trường

90% sản lượng khí được ưu tiên cung cấp cho sản xuất điện. Ảnh nguồn PVN
Theo Bộ Tài chính, nguồn khí ở nước ta chủ yếu tập trung ở khu vực Đông Nam Bộ (bể Nam Côn Sơn, bể Cửu Long, bể Malay – Thổ Chu); trong đó, 90% sản lượng khí được ưu tiên cung cấp cho sản xuất điện.
Hiện nay, giá bán khí cho sản xuất điện đối với lượng khí trên bao tiêu và lượng khí bán cho sản xuất đạm (khoảng trên 3 tỷ m3/năm) thực hiện theo lộ trình quy định tại công văn số 2175/VPCP-KTTH ngày 2/4/2014 của Văn phòng Chính phủ.
Theo đó, giá khí bán cho sản xuất điện từ ngày 01/4/2014 bằng 70% (giá thị trường cộng (+) chi phí vận chuyển, phân phối); từ ngày 01/7/2014 bằng 80% (giá thị trường cộng (+) chi phí vận chuyển, phân phối); từ ngày 01/1/2015 bằng mức giá khí thị trường cộng (+) chi phí vận chuyển, phân phối. Giá khí thị trường là giá khí miệng giếng được xác định bằng 46% MFO (giá dầu FO trung bình tháng tại thị trường Singapore theo Tạp chí Platt’s).
Riêng đối với lượng khí trong bao tiêu bán cho sản xuất điện hiện thực hiện theo thỏa thuận tại các hợp đồng mua bán khí với tổng sản lượng khoảng 3,55 tỷ m3/năm; mức giá cụ thể được xác định theo từng năm đến 2023.
So với mức giá thị trường đối với khí trên bao tiêu, thì giá bán khí cho điện trong bao tiêu hiện tương đối thấp (ví dụ: năm 2013 là 3,75USD/trBTU, năm 2015 là 3,9USD/trBTU).
Như vậy, thực hiện Nghị quyết của Quốc hội, đến nay đã thực hiện giá khí thị trường đối với khí bán cho đạm Phú Mỹ và lượng khí trên bao tiêu bán cho sản xuất điện. Riêng giá khí trong bao tiêu bán cho các nhà máy điện hiện vẫn thấp hơn nhiều so với giá khí thị trường.
Vì vậy Bộ Tài chính cho rằng, trong thời gian tới, cần phải tiến tới thực hiện giá thị trường đối với lượng khí trong bao tiêu, tránh trường hợp chênh lệch giá dẫn đến cạnh tranh không bình đẳng giữa các nhà máy nhiệt điện khí.
Việc điều chỉnh giá khí cho điện trong bao tiêu cần được xem xét, tính toán mức độ và lộ trình cụ thể; đồng thời đặt trong mối quan hệ với các yếu tố đầu vào khác đối với sản xuất điện (cơ cấu sản lượng điện phát, biến động giá nhiên liệu khác như giá than, giá dầu; chênh lệch tỷ giá...), tránh mức tăng đột biến đối với chi phí sản xuất điện.
H.L
