Giá vàng hôm nay (18/9): Thế giới giảm, trong nước tăng ở mức cao kỷ lục

Sau những phiên tăng mạnh, sáng nay, giá vàng thế giới quay đầu giảm trên 13 USD/ounce trước thông tin Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) có thể chỉ giảm lãi suất tại mức 25 điểm cơ bản thay vì 50 điểm cơ bản. Trong nước, vàng miếng và vàng nhẫn vẫn neo ở mốc kỷ lục.
aa
Giá vàng hôm nay (18/9): Thế giới giảm, trong nước tăng ở mức cao kỷ lục
Diễn biến giá vàng thế giới trong 24 giờ qua.

Thị trường thế giới

Tại thời điểm 06h17 phút ngày18/09/2024 (giờ Việt Nam), giá vàng dừng tại mốc 2.572,61 USD/ounce, giảm -11,02 USD/ounce, tương đương giảm -0,43 % trong 24 giờ qua.

Quy đổi theo tỷ giá hiện hành tại Vietcombank, vàng thế giới có giá khoảng 75,774 triệu đồng/lượng (chưa tính thuế, phí).

Chiến lược gia hàng hóa Bart Melek của TD Securities nhận xét, sở dĩ vàng giảm trong ngày là do một số người vẫn lo ngại rằng Fed có thể sẽ chỉ giảm 25 điểm cơ bản tại cuộc họp diễn ra ngày 18-9 (giờ Mỹ).

Thị trường trong nước

Vàng miếng SJC sau khi bất ngờ tăng mạnh lên mốc 82 triệu đồng/lượng trong phiên 17/9, phiên này vẫn giữ nguyên. Vàng nhẫn ổn định trên 79 triệu đồng/lượng. Cụ thể:

Vàng miếng SJC tại các ngân hàng Agribank, BIDV, Vietcombank, VietinBank và các công ty vàng bạc đá quý bán ra ở mức 82 triệu đồng/lượng. Ở chiều mua, giá vàng các thương hiệu được niêm yết ở mức 80 triệu đồng/lượng.

Với mốc trên, vàng miếng của SJC vẫn đang cao hơn giá vàng thế giới là 4,68 triệu đồng/lượng.

Giá vàng nhẫn SJC 9999 niêm yết lần lượt ở mức 77,9 triệu đồng/lượng mua vào và 79,2 triệu đồng/lượng bán ra, tăng 100.000 đồng ở cả 2 chiều.

DOJI tại thị trường Hà Nội và TP Hồ Chí Minh giữ nguyên giá mua và giá bán của rạng sáng qua là 78 triệu đồng/lượng mua vào và 79,2 triệu đồng/lượng bán ra. Giá mua và giá bán vàng nhẫn thương hiệu PNJ neo ở mức 78 triệu đồng/lượng và 79,2 triệu đồng/lượng.

Giá nhẫn tròn trơn của Bảo Tín Minh Châu đang ở mức 77,98 triệu đồng/lượng mua vào và 79,18 triệu đồng/lượng bán ra.

Phú Quý SJC đang thu mua vàng nhẫn mức 78 triệu đồng/lượng và bán ra mức 79,2 triệu đồng/lượng, không đổi so với rạng sáng qua.

Dự báo

Giá vàng đã có hiệu suất mạnh nhất trong năm nay, tăng khoảng 25% và liên tiếp thiết lập các kỷ lục mới. Điều này xảy ra trong bối cảnh các ngân hàng trung ương tăng cường mua vào và các nhà giao dịch hướng sự chú ý tới đợt giảm lãi suất của Fed.

Các nhà giao dịch vẫn đang có quan điểm trái chiều về khả năng Fed giảm 25 điểm cơ bản hay 50 điểm cơ bản. Giá vàng cũng vì thế có thể tăng giảm theo sự điều chỉnh lãi suất của Fed. Tuy nhiên, các nhà phân tích cho biết: “Mặc dù nhận thấy một số yếu tố tác động tiêu cực tạm thời đến giá vàng trong kịch bản cơ sở Fed cắt giảm lãi suất 25 điểm cơ bản vào thứ Tư, chúng tôi dự đoán lượng nắm giữ vàng của các quỹ ETF tăng dần. Bởi, khối lượng vàng của các quỹ ETF chỉ tăng dần khi Fed giảm lãi suất, nên sự tăng giá gần đây vẫn chưa phán ánh đầy đủ”.

Theo thống kê của Bloomberg, lượng vàng nắm giữ của các quỹ ETF đã phục hồi trong những tháng gần đây sau khi giảm xuống mức thấp nhất kể từ năm 2019 vào giữa tháng 5. Mặc dù giá vàng duy trì đà tăng mạnh trong thời gian qua, lượng nắm giữ vẫn thấp hơn so với đầu năm và thấp hơn khoảng 25% so với mức đỉnh đạt được trong đại dịch năm 2020./.

Thu Dung (tổng hợp)

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 2/6: Giá vàng lùi về quanh ngưỡng 155,5 - 158,5 triệu đồng/lượng

Giá vàng trong nước đồng loạt giảm 500.000 đồng/lượng tại nhiều doanh nghiệp lớn, đưa mặt bằng giá giao dịch lùi về quanh 155,5 - 158,5 triệu đồng/lượng.

Giá vàng hôm nay ngày 1/6: Giá vàng trong nước duy trì quanh 156 - 159 triệu đồng/lượng

Giá vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt giữ nguyên giá, đưa mặt bằng giao dịch phổ biến tiếp tục duy trì trong vùng 156 - 159 triệu đồng/lượng.

Giá vàng hôm nay ngày 31/5: Giá vàng trong nước tăng thêm 500.000 đồng/lượng

Giá vàng trong nước đồng loạt tăng 500.000 đồng/lượng tại nhiều doanh nghiệp lớn, đưa giá vàng lên quanh ngưỡng 156 - 159 triệu đồng/lượng.

Đề xuất gỡ “giấy phép con” với vàng trang sức, siết quản lý vàng nguyên liệu tạm nhập tái xuất

Ngân hàng Nhà nước đề xuất đưa hoạt động sản xuất, gia công, kinh doanh mua bán vàng trang sức, mỹ nghệ ra khỏi danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện. Đồng thời, siết chặt quản lý hoạt động tạm nhập vàng nguyên liệu để tái xuất, không được bán, chuyển giao, sử dụng vào mục đích khác trên thị trường trong nước.

Thị trường tiền tệ tuần 25 - 29/5: Hơn 30.700 tỷ đồng được bơm ròng ra thị trường, lãi suất liên ngân hàng áp sát 8%

Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần cuối cùng tháng 5/2026 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước đảo chiều bơm ròng 30.732,83 tỷ đồng qua kênh OMO sau hai tuần hút thanh khoản liên tiếp. Trong khi lãi suất liên ngân hàng tăng mạnh ở nhiều kỳ hạn, áp sát 8% và lên cao nhất từ đầu tháng 4/2026, tỷ giá USD/VND có dấu hiệu ổn định hơn, còn USD tự do giảm 140 đồng tuần qua.

Giá vàng hôm nay ngày 30/5: Giá vàng trong nước và thế giới đồng loạt tăng

Giá vàng thế giới tăng 43 USD/ounce, lên mức 4.538 USD/ounce. Sáng 30/5, giá vàng trong nước tiếp tục tăng trở lại tại nhiều doanh nghiệp lớn. Ở phân khúc vàng miếng, Bảo Tín Mạnh Hải, PNJ, DOJI và Bảo Tín Minh Châu cùng tăng 500.000 đồng/lượng ở cả hai chiều mua vào và bán ra, đưa mặt bằng giá giao dịch phổ biến lên quanh ngưỡng 156 - 159 triệu đồng/lượng.

Giá vàng hôm nay ngày 29/5: Giá vàng trong nước đảo chiều tăng trở lại

Mở cửa phiên ngày 29/5, giá vàng trong nước tiếp đảo chiều tăng trở lại tại nhiều doanh nghiệp lớn. Ở phân khúc vàng miếng, Bảo Tín Mạnh Hải, PNJ, DOJI và Bảo Tín Minh Châu cùng tăng 2,5 triệu đồng/lượng ở cả hai chiều mua vào và bán ra, đưa mặt bằng giá giao dịch phổ biến lên quanh ngưỡng 157 - 160 triệu đồng/lượng.

Giá vàng hôm nay ngày 28/5: Giá vàng trong nước nới rộng biên độ giảm

Giá vàng trong nước tiếp tục điều chỉnh mạnh khi nhiều doanh nghiệp đồng loạt hạ giá vàng miếng và vàng nhẫn. Mức giảm sáng nay 28/5 đã được nới rộng so với hôm qua, với mức giảm cao nhất lên tới 1,7 triệu đồng/lượng.
Xem thêm
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0,20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80