Giảm thuế 2% hỗ trợ doanh nghiệp phát triển đầu tư, kinh doanh

Hà My
Theo TS. Nguyễn Quốc Việt - Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu kinh tế và chính sách (VEPR), giảm 2% thuế giá trị gia tăng giúp kìm chỉ số giá tiêu dùng, ít nhất là 2 quý còn lại của năm 2023. Khi ổn định được chỉ số giá tiêu dùng và lạm phát không còn là một nguy cơ trong năm 2023 thì đó vừa là “bệ đỡ” hỗ trợ cho dư địa chính sách về tài khóa - tiền tệ, vừa là bệ đỡ cho các doanh nghiệp, giúp họ tự tin hơn trong các quyết định đầu tư, kinh doanh.
aa
Giảm thuế 2% hỗ trợ doanh nghiệp phát triển đầu tư, kinh doanh

PV: Ông đánh giá như thế nào về hiệu quả của việc thực hiện chính sách giảm thuế giá trị gia tăng (VAT) trong năm 2022?

Giảm thuế 2% hỗ trợ doanh nghiệp phát triển đầu tư, kinh doanh

TS. Nguyễn Quốc Việt: Có thể thấy, chính sách giảm thuế VAT trong năm 2022 đã phát huy tác dụng thiết thực, tác động đa chiều đến nền kinh tế khi giảm thuế làm giá hàng hóa giảm, tiêu dùng lên tăng giúp doanh nghiệp (DN) tăng sản xuất. DN được giảm chi phí đầu vào thông qua giảm 2% VAT. Chi phí đầu vào giảm, người tiêu dùng mua được hàng hóa rẻ hơn đồng thời tiết kiệm được 2% trong tiêu dùng nên sức tiêu thụ mạnh hơn.

Bên cạnh đó, việc giảm VAT không làm giảm ngân sách nhà nước (mà thực tế lại tăng do kích thích tiêu dùng) và kích thích các chỉ tiêu khác trong nền kinh tế, kết quả cuối cùng là GDP tăng đáng kể so với kế hoạch của Chính phủ.

Giảm thuế VAT cũng giúp giảm áp lực lạm phát trong năm 2022, đảm bảo các cân đối vĩ mô lớn hỗ trợ quá trình phục hồi tăng trưởng, cũng như hỗ trợ trực tiếp giảm khó khăn trước mắt cho các hộ gia đình, nhất là lao động thu nhập thấp khi tiêu dùng các mặt hàng thiết yếu.

PV: Tiếp tục đồng hành, hỗ trợ DN, trong năm 2023, chính sách giảm 2% VAT tiếp tục được thực hiện từ tháng 7. Theo ông, khả năng tác động của chính sách này trong 6 tháng cuối năm 2023 sẽ như thế nào?

7/10 người tiêu dùng hưởng lợi

Theo tính toán của Bộ Tài chính, trong 6 tháng cuối năm, kỳ vọng tiêu dùng sẽ tăng lên đáng kể khi các mặt hàng được giảm 2% VAT nằm trong giỏ hàng tiêu dùng thiết yếu, chiếm 75% tỷ trọng mua sắm của người tiêu dùng. Điều này tương đương cứ 10 người tiêu dùng thì sẽ có 7 người được hưởng lợi.

TS. Nguyễn Quốc Việt: Việc thực hiện chính sách ở mỗi giai đoạn khác nhau còn phụ thuộc vào những điều kiện hoàn cảnh khác nhau. Năm 2023, tổng cầu thế giới suy giảm và ảnh hưởng đến thu nhập của các hộ gia đình, sự không chắc chắn của môi trường kinh doanh… dẫn đến bản thân DN ngay cả khi có khả năng tiếp cận các nguồn vốn cũng khó có thể mạnh dạn đầu tư kinh doanh. Trong bối cảnh như vậy, để nói trước được liệu gói hỗ trợ VAT này có thể tác động ngay đến việc kích hoạt sản xuất kinh doanh thì cần phải theo dõi thêm. Nhưng chắc chắn việc giảm thuế này sẽ làm giảm áp lực về lạm phát. Ngay trong tháng 7, có thể thấy một loạt các mặt hàng cơ bản từ gạo, thịt lợn, xăng dầu đã tăng lên rất nhiều so với 6 tháng đầu năm, cộng với sự tăng lương cơ bản cũng là áp lực tới lạm phát. Khi đó, thông tin về giảm 2% thuế VAT đã lập tức kìm chỉ số giá tiêu dùng ít nhất là 2 quý còn lại.

Khi ổn định được chỉ số giá tiêu dùng và lạm phát không còn là một nguy cơ trong năm 2023 thì tôi tin rằng, đó cũng là một “bệ đỡ”. Đây vừa là bệ đỡ hỗ trợ cho dư địa cho chính sách về tài khóa - tiền tệ của Chính phủ, vừa là bệ đỡ cho các DN và đảm bảo hơn cho an sinh xã hội của người dân, giúp người dân tự tin hơn trong các quyết định đầu tư, kinh doanh của mình. Tôi đánh giá cao quyết định của nhiều DN khi mạnh dạn đặt ra những mục tiêu tăng trưởng tích cực hơn từ quý III, quý IV sau khi thông tin giảm thuế VAT 2% được áp dụng.

Việc Chính phủ giảm thuế và chấp nhận hy sinh một phần kế hoạch thu ngân sách nhà nước (theo tính toán, dự kiến ban đầu việc giảm 2% VAT sẽ khiến số thu ngân sách năm 2023 bị giảm 24.000 tỷ đồng) đã thể hiện sự đồng hành chia sẻ với những khó khăn của người dân và DN.

Trong bối cảnh còn nhiều khó khăn như hiện nay, việc giảm thuế VAT 2% là một động lực quan trọng để DN phục hồi sản xuất, kinh doanh. Có thể thấy thực tế sau 2 tháng đã có nhiều dấu hiệu phục hồi từ cầu tiêu dùng, sức sản xuất và chỉ số quản trị mua hàng nhúc nhích tăng.

PV: Hiện một số DN còn có tâm lý sợ áp dụng sai, bị kiểm tra xử phạt, hay lo ngại chi phí giao dịch, điều chỉnh hồ sơ, chi phí quản lý… sau khi áp dụng giảm 2% VAT còn cao hơn giá trị mà DN được hưởng từ chính sách? Ông có khuyến nghị gì cho việc thực hiện chính sách được hiệu quả?

TS. Nguyễn Quốc Việt: Theo tôi, cần có sự trao đổi để DN có động lực thực hiện các chính sách. Ví dụ, thay đổi niêm yết giá công khai mặc dù có thể tạo ra sự phiền toái và mất chút ít chi phí cho DN, nhưng lại tạo sự minh bạch. Quan trọng hơn là nâng cao nhận thức và sự ảnh hưởng rộng rãi của chính sách đối với đối tượng thụ hưởng trực tiếp là các cá nhân người tiêu dùng, từ đó mới kích thích cầu tiêu dùng tạo dư địa cho thúc đẩy tăng trưởng sản xuất trở lại. Như thế bản thân DN cũng nhận thức được đầy đủ về chi phí phải bỏ ra và lợi ích tổng thể đạt được.

Trong quá trình thay đổi và thực hiện các điều chỉnh có thể DN có những lúng túng và sai sót. Vì vậy, cần có sự chia sẻ và cùng phối hợp của các cơ quan quản lý, không nên có tâm lý lợi dụng hoặc vô cảm khi áp dụng biện pháp tiêu cực đối với những DN do chưa hiểu rõ hoặc do quá trình áp dụng nhầm lẫn (áp mã hàng được hay không được giảm VAT chẳng hạn).

Đồng thời, cũng cần nhấn mạnh, việc công khai, minh bạch hoá đơn khấu trừ VAT, tiến tới áp dụng kết nối thông tin và bắt buộc in hóa đơn có khấu trừ VAT khi thực hiện mua - bán hàng hóa. Điều này vừa đảm bảo công khai, minh bạch và bình đẳng giữa các DN, vừa giúp người tiêu dùng nhận thức được rõ ràng khoản đóng thuế VAT trong các hóa đơn mua hàng của mình, cũng như nhận thức được tác động của các chính sách hỗ trợ 2% VAT hiện nay.

PV: Xin cảm ơn ông!

Làm quyết liệt, rốt ráo giúp lan tỏa nhanh hơn tác động tích cực

Theo GS.TS Đinh Trọng Thịnh, thuế là một lĩnh vực rất phức tạp. Trong sản xuất kinh doanh, đầu vào rất nhiều hàng hóa, loại tính thuế 5%, loại tính 8%, loại tính 10%... Vì vậy, việc tính toán đó cũng đòi hỏi doanh nghiệp (DN) phải phát sinh chi phí. Trong thực tiễn vẫn còn có những vướng mắc khi thực hiện, nên cần có sự vào cuộc của cơ quan thuế cũng như các cơ quan quản lý nhà nước để giúp DN vượt qua khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện chính sách, đem lại lợi ích cho DN một cách cao nhất.

TS. Nguyễn Quốc Việt cũng cho rằng, quá trình triển khai chính sách, không nên đặt nặng vấn đề phạt khi có những sai sót từ DN. Bởi vì, xét cho cùng, chính sách là để hỗ trợ cho phục hồi sản xuất kinh doanh của DN, vì vậy cần giảm thiểu những “xung đột”. Như vậy, bản thân DN cảm thấy tự tin và cảm thấy có sự chia sẻ sẽ sẵn sàng cộng tác tốt hơn với cơ quan thuế trong việc công khai minh bạch.

“Bất cứ chính sách nào cũng có độ trễ về tác động, nếu càng làm quyết liệt, rốt ráo thì sự tác động tích cực sẽ lan tỏa nhanh hơn và khi tổng cầu đã phục hồi, khi niềm tin của người dân và doanh nghiệp quay trở lại thì sẽ hỗ trợ cho việc tăng các nguồn thu khác. Đó là một trong những bài học kinh nghiệm thành công trong quá trình thực thi chính sách giảm thuế VAT trong năm 2022 cần lưu ý khi thực hiện trong năm nay” - TS. Nguyễn Quốc Việt lưu ý.

Hà My

Đọc thêm

Chính sách thuế mới tạo đà cho hộ kinh doanh phát triển bền vững

Chính sách thuế mới tạo đà cho hộ kinh doanh phát triển bền vững

TS. Phan Phương Nam - Phó Trưởng khoa Luật Thương mại (Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh) nhấn mạnh, công tác tuyên truyền, hỗ trợ cần được chú trọng, để chính sách thuế đối với hộ kinh doanh phát huy tối đa hiệu quả quản lý nhà nước, đồng thời tạo đà phát triển bền vững cho khu vực kinh tế cá thể.
Giảm thuế nhập khẩu xăng dầu về 0%: Hỗ trợ kịp thời, nhưng cần thêm “bộ đệm” chính sách

Giảm thuế nhập khẩu xăng dầu về 0%: Hỗ trợ kịp thời, nhưng cần thêm “bộ đệm” chính sách

Theo PGS.TS Ngô Trí Long (Hiệp hội Tư vấn tài chính Việt Nam), việc giảm thuế nhập khẩu xăng dầu về 0% đến hết tháng 4/2026 là một giải pháp tài khóa đúng lúc, hợp lý và có tác dụng giảm áp lực, nhưng để ổn định thị trường một cách bền vững, thì vẫn phải đi cùng các công cụ khác, chứ không thể dựa riêng vào giảm thuế.
Chính sách tài khóa tiếp tục tạo động lực cho tăng trưởng bền vững

Chính sách tài khóa tiếp tục tạo động lực cho tăng trưởng bền vững

ThS. Lê Thị Mai Liên - Trưởng ban Kinh tế vĩ mô và dự báo, Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính (Bộ Tài chính) cho rằng, cần phối hợp đồng bộ các động lực, để nền kinh tế có thêm dư địa thúc đẩy tăng trưởng nhanh và bền vững trong thời gian tới.
Tăng “sức đề kháng” chuỗi cung ứng trước biến động địa chính trị Trung Đông

Tăng “sức đề kháng” chuỗi cung ứng trước biến động địa chính trị Trung Đông

Trả lời phóng viên, TS. Nguyễn Sơn - Giảng viên ngành quản lý chuỗi cung ứng và logistics, Đại học RMIT Việt Nam cho rằng, rủi ro địa chính trị tại Trung Đông đang tác động tới thương mại và vận tải quốc tế. Việc tăng “sức đề kháng” chuỗi cung ứng sẽ là yếu tố then chốt giúp doanh nghiệp Việt Nam duy trì lợi thế cạnh tranh trong bối cảnh bất ổn toàn cầu.
Chứng khoán Việt có điểm tựa từ nền tảng vĩ mô và triển vọng nâng hạng

Chứng khoán Việt có điểm tựa từ nền tảng vĩ mô và triển vọng nâng hạng

Theo ông Đinh Quang Hinh - Trưởng bộ phận Vĩ mô và Chiến lược Thị trường, Công ty Chứng khoán VNDIRECT, căng thẳng tại Trung Đông và đà tăng mạnh của giá dầu đã tác động tới tâm lý nhà đầu tư trên thị trường tài chính. Tuy vậy, nền tảng kinh tế ổn định, dư địa chính sách và triển vọng nâng hạng vẫn được kỳ vọng giúp chứng khoán Việt Nam duy trì sự cân bằng trước các biến động bên ngoài.
Biến động Trung Đông và bài toán ứng phó của doanh nghiệp logistics

Biến động Trung Đông và bài toán ứng phó của doanh nghiệp logistics

Ông Phạm Quang Long - Giám đốc kinh doanh và phát triển thị trường, Công ty Allied Movers tại Việt Nam cho rằng, xung đột tại Trung Đông tác động tới vận tải biển và hàng không quốc tế, làm gia tăng chi phí và rủi ro logistics. Theo đó, Việt Nam cần củng cố hạ tầng và năng lực logistics để tận dụng cơ hội trong cấu trúc thương mại mới. Về phía doanh nghiệp, cần chủ động thích ứng và có chiến lược kinh doanh phù hợp.
Chủ động xây dựng kịch bản ứng phó với tác động từ xung đột tại Trung Đông

Chủ động xây dựng kịch bản ứng phó với tác động từ xung đột tại Trung Đông

Theo TS. Nguyễn Sơn - giảng viên ngành quản lý chuỗi cung ứng và logistics, Đại học RMIT Việt Nam, để giảm thiểu tác động từ xung đột tại Trung Đông, doanh nghiệp Việt cần chủ động rà soát hợp đồng quốc tế, đa dạng hóa nguồn cung nguyên liệu, điều chỉnh chiến lược logistics và xây dựng kịch bản ứng phó nếu xung đột kéo dài.
Dự báo diễn biến giá vàng khi xung đột Trung Đông “dậy sóng”

Dự báo diễn biến giá vàng khi xung đột Trung Đông “dậy sóng”

Xung đột tại Trung Đông đang khiến thị trường tài chính toàn cầu biến động mạnh, trong đó, vàng tiếp tục là tâm điểm chú ý của nhà đầu tư. TS. Lê Bá Chí Nhân - chuyên gia kinh tế cao cấp cho rằng, biến động quốc tế ngày càng lớn, nếu thiếu cơ chế giao dịch minh bạch, rủi ro đầu cơ và chênh lệch giá vàng sẽ lặp lại. Vì vậy, cần sớm hình thành sàn giao dịch vàng quốc gia và mở rộng nguồn cung theo lộ trình có kiểm soát.
Xem thêm