Hướng dẫn mới về thuế sử dụng đất nông nghiệp

Văn Tuấn
Ngày 27/6/2025, Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 59/2025/TT-BTC về sửa đổi, bổ sung một số điều của các thông tư về thuế sử dụng đất nông nghiệp do Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành. Thông tư có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/7/2025.
aa

Hướng dẫn mới về lập sổ thuế và tổ chức xét duyệt số thuế

Tại Điều 1, Thông tư số 59/2025/TT-BTC đã sửa đổi, bổ sung một số điểm, mục của Thông tư số 89-TC/TCT ngày 9/11/1993 của Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 74/CP ngày 25/10/1993 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Thuế sử dụng đất nông nghiệp.

Cụ thể, sửa đổi, bổ sung điểm 1 Mục II như sau: Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất nông nghiệp thực hiện khai thuế theo quy định pháp luật quản lý thuế.

Diện tích tính thuế của từng thửa ruộng, đất là diện tích thực sử dụng kể cả bờ xung quanh ruộng phục vụ trực tiếp cho sản xuất của thửa ruộng, đất, không tính phần bờ dùng cho giao thông nội đồng hoặc dùng chung cho từ một cánh đồng trở lên.

Hướng dẫn mới về thuế sử dụng đất nông nghiệp
Cục Thuế có trách nhiệm thường xuyên hoặc định kỳ kiểm tra sổ thuế sử dụng đất nông nghiệp của các địa phương. Ảnh: TL

Trong quá trình xác định diện tích tính thuế sử dụng đất nông nghiệp, Đội Thuế phải cùng Hội đồng tư vấn thuế xã, phường xem xét cụ thể từng trường hợp, nếu thấy tờ khai chưa chính xác thì phải đề nghị chủ hộ kê khai lại và phải tổ chức kiểm tra điển hình để xác định đúng diện tích đất chịu thuế của những hộ kê khai chưa chính xác.

Đồng thời sửa đổi, bổ sung Mục III như sau: Lập sổ thuế và tổ chức xét duyệt số thuế. Trong đó, về lập sổ thuế. Nguyên tắc là đất đăng ký sổ địa chính ở địa phương nào thì lập sổ thuế ở địa phương đó theo quy định tại Điều 9 Nghị định số 74/CP.

Theo quy định tại Điều 10 Nghị định số 74/CP, việc lập sổ thuế tiến hành như sau: Đội Thuế tổng hợp kết quả tiếp thu ý kiến nhân dân và từng hộ nộp thuế ngay sau khi hết thời hạn niêm yết và báo cáo UBND cấp xã. Nếu có ý kiến trái ngược lớn về diện tích hoặc hạng đất tính thuế, thì phải kiểm tra xác định lại, sau đó tiến hành lập sổ thuế theo từng thôn, tổ dân phố theo mẫu của Bộ Tài chính.

Hội đồng tư vấn thuế xã, phường giúp UBND cấp xã kết hợp với Đội Thuế kiểm tra, xác định các căn cứ tính thuế của từng hộ nộp thuế, đảm bảo phù hợp với tờ khai của hộ và kết quả phân hạng đất tính thuế. Những trường hợp sau khi niêm yết, hộ nộp thuế chưa thống nhất với Hội đồng tư vấn thuế xã, phường và Đội Thuế về căn cứ tính thuế, mà Hội đồng tư vấn thuế xã, phường và Đội Thuế không giải quyết được thì phải báo cáo UBND cấp xã để có ý kiến bằng văn bản cho hộ nộp thuế, trên cơ sở đó tiếp tục lập và hoàn thiện sổ thuế. Trường hợp tăng, giảm hộ nộp thuế thì Đội Thuế điều chỉnh số thuế.

Tổ chức xét duyệt sổ thuế. Theo đó, sau khi lập xong sổ thuế, Chủ tịch UBND cấp xã ký xác nhận, gửi Đội Thuế. Đội Thuế cùng Hội đồng tư vấn thuế xã, phường tổ chức duyệt: diện tích tính thuế, hạng đất tính thuế cho từng xã.

Trên cơ sở sổ thuế do các xã đã lập và ý kiến của Hội đồng tư vấn thuế xã, phường, Đội Thuế hoàn chỉnh tổng hợp kết quả duyệt sổ thuế báo cáo UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (trong văn bản này gọi chung là cấp tỉnh) và Chi cục Thuế khu vực.

Theo đó, Chi cục Thuế khu vực kiểm tra, xét duyệt sổ thuế của các xã có sự tham gia của các ngành liên quan (Hội đồng tư vấn). Trường hợp có ý kiến khác nhau thì UBND cấp tỉnh ra quyết định chỉ đạo lập lại sổ thuế.

Cục Thuế có trách nhiệm thường xuyên hoặc định kỳ kiểm tra sổ thuế sử dụng đất nông nghiệp của các địa phương.

Hướng dẫn bổ sung việc giảm thuế, miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp

Thông tư cũng sửa đổi, bổ sung Mục IV như sau: Căn cứ số thuế được duyệt: căn cứ vào mùa vụ và khả năng thu hoạch, thực tế giá cả và yêu cầu lương thực (nếu có). Chi cục Thuế khu vực trình UBND cấp tỉnh quyết định các vấn đề theo quy định tại Điều 11, Điều 12 Nghị định số 74/CP. Thu, nộp thuế thực hiện theo quy định pháp luật quản lý thuế.

Sửa đổi điểm 4 Mục V như sau: Trình tự việc xem xét và tổng hợp đề nghị giảm, miễn thuế ở các cấp như sau: Căn cứ vào thực tế thiệt hại, biên bản xác nhận đánh giá khi thiên tai, địch hoạ, sâu bệnh..., xảy ra và biên bản thăm đồng; căn cứ vào thực tế đời sống các đối tượng chính sách thuộc diện được xét giảm, miễn thuế;

Đội Thuế và Hội đồng tư vấn thuế xã, phường giúp UBND cấp xã đề nghị xin giảm miễn thuế của xã, lập danh sách các hộ về diện tích, mức độ (năng suất thiệt hại, mức thuế xin giảm, miễn do thiên tai, các hộ xin giảm, miễn thuế thuộc đối tượng chính sách xã hội theo mẫu đính kèm Thông tư này niêm yết trong thời hạn 20 ngày. Đội Thuế tiếp thu ý kiến của nhân dân, hoàn chỉnh, tổng hợp, báo cáo UBND cấp xã duyệt danh sách và mức nghị giảm, miễn thuế báo cáo UBND cấp tỉnh và Chi cục Thuế khu vực.

Hướng dẫn mới về thuế sử dụng đất nông nghiệp
Ảnh tư liệu minh hoạ

Căn cứ vào: Biên bản xác định phạm vi và mức độ thiệt hại xảy ra thiên tai; Báo cáo thống kê tình hình năng suất sản lượng các loại cây trồng kết quả thăm đồng, đánh giá sản lượng thu hoạch thực tế của diện tích thiệt hại; Biên bản xét duyệt của các xã; Đơn đề nghị xét giảm miễn thuế của hộ nộp thuế; Căn cứ vào đời sống của các hộ thuộc đối tượng chính sách.

Đội Thuế dự kiến đề nghị xét giảm, miễn thuế của các xã và các hộ nộp thuế đưa ra Hội đồng tư vấn thuế xã, phường xem xét có sự tham gia của các ngành liên quan, trên cơ sở đó, tổng hợp báo cáo UBND cấp tỉnh và Chi cục Thuế khu vực.

Chi cục Thuế khu vực kiểm tra và duyệt giảm, miễn thuế cho các xã có sự tham gia của Hội đồng tư vấn thuế xã, phường (các ngành liên quan) trên cơ sở đó đề nghị UBND cấp tỉnh quyết định.

Khi kiểm tra Chi cục Thuế khu vực phải: Đối chiếu giữa biên bản xác định diện tích bị thiên tai làm thiệt hại với diện tích thực tế bị thiệt hại, mức độ thiệt hại và biên bản đánh giá sản lượng thực tế thu hoạch, so sánh giữa các xã trong tỉnh, so sánh với các vụ trước; Xác định đúng sản lượng của năm sản xuất theo quy định tại Điều 17 Nghị định số 74/CP; Khi xem xét giảm miễn thuế cho các đối tượng chính sách xã hội phải có xác nhận của ngành nội vụ; đồng thời phải chú ý xem xét đời sống thực tế ở địa phương và giữa các xã trong tỉnh, thành phố.

Thông tư cũng bãi bỏ điểm 5 và điểm 6 của Mục V, Mục VI và Mục VII.

Sửa đổi, bổ sung điểm 2 Mục VIII như sau: Theo quy định tại Điều 29 Nghị định số 74/CP: Hằng năm, Cục Thuế được trích số tiền bằng 4,5% trên số thuế sử dụng đất nông nghiệp thu được đảm bảo kinh phí cho Đội Thuế thực hiện việc thu thuế ở xã, phường và hoạt động của Hội đồng tư vấn thuế xã, phường. Khoản kinh phí này do ngân sách trung ương chi, Bộ Tài chính cấp theo kế hoạch từng tháng, quý cho Cục Thuế như các khoản kinh phí khác, cuối năm thanh quyết toán số thuế thực thu”.

Tại Điều 2, Thông tư số 59/2025/TT-BTC sửa đổi, bổ sung một số điểm của Thông tư số 82-TC/TCT ngày 7/10/1994 của Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 84/CP ngày 8/8/1994 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh Thuế bổ sung đối với hộ gia đình sử dụng đất nông nghiệp vượt quá hạn mức diện tích.

Theo đó, sửa đổi, bổ sung điểm 1 Mục I như sau: Đối với đất nông nghiệp trồng cây hằng năm: Các tỉnh Đồng Nai, An Giang, Tây Ninh, Đồng Tháp, Cà Mau, Vĩnh Long, Thành phố Cần Thơ và TP Hồ Chí Minh không quá 3 ha. Các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương khác không quá 2 ha. Đồng thời bãi bỏ Mục III và Mục IV.

Tại Điều 3, Thông tư số 59/2025/TT-BTC sửa đổi, bổ sung một số điểm của Thông tư số 60-TC/TCT ngày 14/7/1994 của Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn bổ sung việc giảm thuế, miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp như sau.

Thay thế cụm từ “UBND xã, phường, thị trấn” bằng cụm từ “UBND xã, phường” tại điểm b khoản 2 Mục I.

Thay thế cụm từ “Tổng cục Thuế” bằng cụm từ “Cục Thuế” và thay thế cụm từ “Cục Thuế” bằng cụm từ “Chi cục Thuế khu vực” tại điểm b, điểm c khoản 3 Mục I và khoản 2 Mục II.

Thay thế cụm từ “Cục Thuế” bằng cụm từ “Chi cục Thuế khu vực”, thay thế cụm từ “UBND cấp huyện, quận, thị xã” bằng cụm từ “UBND cấp xã”, thay thế cụm từ “Hội đồng tư vấn thuế” bằng cụm từ “Hội đồng tư vấn thuế xã, phường” tại điểm 1, điểm 2 Mục III./.

Văn Tuấn

Đọc thêm

Ưu tiên đầu tư vốn ODA cho dự án trọng điểm có tác động lan tỏa, tạo đột phá

Ưu tiên đầu tư vốn ODA cho dự án trọng điểm có tác động lan tỏa, tạo đột phá

Đây là một trong những định hướng quan trọng được nêu trong Kế hoạch thực hiện Định hướng thu hút, quản lý và sử dụng vốn ODA và vốn vay ưu đãi nước ngoài giai đoạn 2026 - 2030 vừa được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 441/QĐ-TTg.
Cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng kinh phí quản lý hành chính

Cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng kinh phí quản lý hành chính

Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 75/2026/NĐ-CP ngày 16/3/2026 quy định chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về quản lý, sử dụng kinh phí quản lý hành chính. Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 1/5/2026.

Kho bạc Nhà nước triển khai đồng bộ Nghị quyết Đại hội XIV trong toàn hệ thống

Thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, hệ thống Kho bạc Nhà nước đang tích cực triển khai các nhiệm vụ, giải pháp nhằm cụ thể hóa các mục tiêu, yêu cầu đặt ra đối với lĩnh vực tài chính - ngân sách trong giai đoạn phát triển mới.
Bộ Tài chính nêu tên nhiều đơn vị chậm kiểm kê tài sản công

Bộ Tài chính nêu tên nhiều đơn vị chậm kiểm kê tài sản công

Bộ Tài chính vừa có Công văn số 3156/BTC-QLCS gửi các bộ, cơ quan trung ương và địa phương về việc tiếp tục đôn đốc thực hiện tổng kiểm kê tài sản công thời điểm 0h ngày 1/1/2026.
Dự trữ quốc gia cần hướng tới nguồn lực chiến lược bảo đảm an ninh kinh tế

Dự trữ quốc gia cần hướng tới nguồn lực chiến lược bảo đảm an ninh kinh tế

Hệ thống dự trữ quốc gia đang đứng trước yêu cầu phải tiếp tục hoàn thiện để đáp ứng tốt hơn nhiệm vụ bảo đảm an ninh kinh tế - xã hội trong bối cảnh mới. Việc sửa đổi, bổ sung Chiến lược Phát triển dự trữ quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 được đặt ra nhằm xây dựng hệ thống dự trữ theo hướng chủ động, linh hoạt và ứng phó kịp thời với các tình huống đột xuất, cấp bách.
TP. Hồ Chí Minh dùng công cụ tài chính để hướng dòng kiều hối đầu tư vào khoa học công nghệ

TP. Hồ Chí Minh dùng công cụ tài chính để hướng dòng kiều hối đầu tư vào khoa học công nghệ

TP. Hồ Chí Minh sẽ triển khai đồng bộ các công cụ tài chính để chuyển dịch dòng kiều hối từ tiêu dùng sang đầu tư sản xuất, ưu tiên các lĩnh vực khoa học - công nghệ, công nghiệp chế biến - chế tạo, đổi mới sáng tạo, năng lượng xanh và chuyển đổi số.
Bộ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Văn Thắng tiếp Tổng Giám đốc Ngân hàng ICBC Lưu Tuấn

Bộ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Văn Thắng tiếp Tổng Giám đốc Ngân hàng ICBC Lưu Tuấn

Ngày 17/3/2026, Ủy viên Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Bộ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Văn Thắng tiếp Đoàn công tác Ngân hàng Công Thương Trung Quốc (ICBC), do ông Liu Jun (Lưu Tuấn), Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Trung Quốc, Phó Chủ tịch Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc ICBC làm trưởng đoàn.
Bổ nhiệm ông Tạ Anh Tuấn giữ chức Thứ trưởng Bộ Tài chính

Bổ nhiệm ông Tạ Anh Tuấn giữ chức Thứ trưởng Bộ Tài chính

Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính vừa ký Quyết định số 450/QĐ-TTg ngày 17/3/2026 về việc điều động, bổ nhiệm ông Tạ Anh Tuấn - Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Lắk nhiệm kỳ 2021 - 2026 giữ chức Thứ trưởng Bộ Tài chính.
Xem thêm