Hướng dẫn thực hiện cơ chế tạm quản hàng hoá theo Công ước Istanbul

Dịch vụ cao cấp trong quản lý hàng hoá để xúc tiến thương mại
Theo tờ trình của Chính phủ, Công ước Istanbul về tạm quản hàng hóa được ký kết ngày 26/6/1990, có hiệu lực từ ngày 27/11/1993 dưới sự quản lý của Tổ chức Hải quan Thế giới (WCO). Hiện nay, trên thế giới có 71 quốc gia/vùng lãnh thổ là thành viên Công ước. Việt Nam chính thức là thành viên Công ước Istanbul từ ngày 3/7/2019.
Công ước quy định việc áp dụng mô hình chuẩn các chứng từ tạm quản như các chứng từ hải quan quốc tế kèm bảo lãnh nhằm góp phần tạo thuận lợi cho thủ tục tạm quản, đồng thời giúp quản lý chặt chẽ hàng tạm quản. Nội dung của cơ chế tạm quản hàng hóa là hàng hóa được phép tạm nhập vào hoặc tạm xuất ra khỏi một quốc gia trong một khoảng thời gian nhất định, với điều kiện chủ hàng tạm nhập hoặc tạm xuất phải đảm bảo tái xuất hoặc tái nhập trong thời hạn nhất định và chấp hành các quy định quản lý của các nước mà hàng hóa đi và đến.
Trong xu thế tăng cường xuất khẩu và giao lưu thương mại với các nước, và Chính phủ đang nỗ lực tiến hành cải cách hành chính, hiện đại hóa hải quan nhằm mục đích tạo thuận lợi thương mại, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, việc áp dụng cơ chế tạm quản theo Công ước Istanbul được coi một dịch vụ cao cấp trong lĩnh vực tạm nhập tái xuất, tạm xuất tái nhập, góp phần đẩy mạnh hoạt động xúc tiến thương mại, giới thiệu quảng bá sản phẩm, hàng hóa của Việt Nam ra thế giới và ngược lại. Chính vì vậy, Chính phủ đánh giá việc xây dựng nghị định để thực hiện cơ chế tạm quản theo Công ước Istanbul là cần thiết.
Trong quá trình xây dựng nghị định, Chính phủ có đưa ra một số vấn đề để xin ý kiến UBTVQH. Về bảo đảm hàng hóa tạm quản, theo Công ước thì hàng hóa được miễn thuế nhưng phải đặt dưới cơ chế bảo đảm. Còn theo quy định hiện hành về thuế thì hàng hóa tạm nhập tái xuất, tạm xuất tái nhập thuộc đối tượng miễn thuế nhưng không phải bảo lãnh. Theo Chính phủ, trong trường hợp này, khoản đảm bảo không chỉ là yêu cầu riêng của Việt Nam mà là yêu cầu chung của các quốc gia tham gia Công ước để đảm bảo rằng các nghĩa vụ về thuế phát sinh sẽ được thanh toán.
Căn cứ quy định tại phụ lục A của Công ước, tại khoản 3 Điều 3 dự thảo Nghị định quy định về khoản bảo đảm như sau:“Khoản bảo đảm là khoản tiền hoặc thư bảo lãnh của ngân hàng được nộp cho cơ quan bảo đảm tại nước tạm xuất hàng hóa tạm quản, để thực hiện nghĩa vụ thuế nhập khẩu, các khoản thuế khác, tiền chậm nộp, tiền phạt và phí, lệ phí (nếu có)”.
Về thời hạn tạm quản, Công ước quy định thời hạn tái xuất ít nhất là 6 tháng kể từ ngày hàng tạm quản, trường hợp sử dụng tại sự kiện tiếp theo thì tái xuất trong 1 năm kể từ ngày hàng tạm quản. Như vậy, giữa Công ước và luật pháp quốc gia có điểm khác biệt về thời hạn tạm nhập tái xuất. Dự thảo Nghị định đã quy định căn cứ theo quy định tại Công ước.
Thống nhất phí cấp sổ tạm quản ATA là loại phí hải quan
Một vấn đề nữa là về khoản thu phí cấp sổ tạm quản (sổ ATA), do khoản thu đối với cấp sổ ATA chưa được quy định chi tiết tại Danh mục phí, lệ phí ban hành kèm theo Luật Phí và lệ phí, vì vậy Chính phủ báo cáo UBTVQH chấp thuận “phí cấp sổ tạm quản ATA thuộc nhóm “phí hải quan” theo danh mục phí ban hành kèm theo Luật Phí và lệ phí và giao Chính phủ quy định tại dự thảo Nghị định.
Trình bày làm rõ thêm một số vấn đề tại phiên họp, Thứ trưởng Bộ Tài chính Vũ Thị Mai cho biết, trong Công ước Istanbul không quy định cụ thể việc thu phí cấp sổ ATA mà đây là quy định riêng của các nước tham gia Công ước. Các nước tham gia tổ chức cấp sổ ATA đều thu một khoản phí khi cấp sổ để bù đắp chi phí. Đơn vị được giao cấp sổ và thu phí chủ yếu là các phòng thương mại và công nghiệp các nước.
Tại dự thảo nghị định, Chính phủ xin ý kiến UBTVQH coi đây là một khoản phí hải quan và giao cho Bộ Tài chính quy định cụ thể. Bởi theo định nghĩa tại Công ước Istanbul, sổ ATA là loại chứng từ hải quan, khi cấp sổ ATA thì đây chính là chứng từ hải quan thay thế cho tờ khai hải quan. Như vậy, phí cấp sổ là một loại phí hải quan, nằm trong danh mục phí ban hành kèm theo Luật Phí và lệ phí.
Sau khi lắng nghe và thảo luận, Phó Chủ tịch UBTVQH Phùng Quốc Hiển thay mặt UBTVQH kết luận UBTVQH thống nhất với Chính phủ về việc cần thiết có Nghị định để nội luật hoá Công ước Istanbul mà Việt Nam đã tham gia. Những vấn đề Chính phủ nêu về dự thảo Nghị định liên quan đến bảo đảm hàng hóa tạm quản, thời hạn tạm quản đã được quy định rõ tại các điều khoản trong quy định của Luật Điều ước quốc tế năm 2016, cũng như Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
Theo Luật Điều ước quốc tế, trường hợp văn bản quy phạm pháp luật và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó.
Về cấp sổ ATA, UBTVQH thống nhất với đề nghị của Chính phủ coi đây là một loại phí hải quan, nằm trong danh mục phí ban hành kèm theo Luật, do Chính phủ hướng dẫn.
Hoàng Yến
Dành cho bạn
Đọc thêm
Cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng kinh phí quản lý hành chính
Kho bạc Nhà nước triển khai đồng bộ Nghị quyết Đại hội XIV trong toàn hệ thống
Bộ Tài chính nêu tên nhiều đơn vị chậm kiểm kê tài sản công
Dự trữ quốc gia cần hướng tới nguồn lực chiến lược bảo đảm an ninh kinh tế
TP. Hồ Chí Minh dùng công cụ tài chính để hướng dòng kiều hối đầu tư vào khoa học công nghệ
Bộ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Văn Thắng tiếp Tổng Giám đốc Ngân hàng ICBC Lưu Tuấn


