Lãi suất huy động và cho vay sẽ tăng thêm 0,6-1%/năm?

D.T

D.T

Trong bản Báo cáo năm 2015 - Triển vọng 2016 vừa phát hành, Công ty Chứng khoán Bảo Việt (BVSC) đã đưa ra dự báo: “Ở kịch bản cở sở, mặt bằng lãi suất huy động và cho vay sẽ tăng thêm 0,6-1%/năm trong năm 2016”.
aa

Vì sao không tăng lãi suất trong năm 2015?

Báo cáo của BVSC cho biết, năm 2015 vừa qua, lãi suất huy động và cho vay được điều chỉnh giảm, nhưng có sự khác biệt giữa các kỳ hạn.

Thống kê lãi suất của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) hàng tháng cho thấy, lãi suất các kỳ hạn ngắn bắt đầu được điều chỉnh giảm kể từ cuối tháng 3/2015. Cụ thể: Kỳ hạn được điều chỉnh mạnh nhất là kỳ hạn 1 tháng, giảm 50 điểm phần trăm, từ 5% xuống 4,5%; kỳ hạn 6 tháng được điều chỉnh giảm 30 điểm phần trăm, từ 5,7% xuống 5,4%, và kỳ hạn dưới 12 tháng được điều chỉnh giảm 20 điểm phần trăm, từ 6,7% xuống 6,5%. Nhìn chung mặt bằng lãi suất được điều chỉnh giảm không nhiều, và kể từ cuối tháng 3 lãi suất được duy trì ổn định cho đến hết năm.

Ở đầu ra của lãi suất, các ngân hàng thương mại quốc doanh đã phát đi tín hiệu giảm lãi suất cho vay dài hạn ngay từ cuối tháng 3/2015, từ 11% xuống 10,5% cho mức cận trên đối với hoạt động sản xuất kinh doanh thông thường. Trong khi đó, lãi suất cho vay ngắn hạn chỉ được điều chỉnh giảm chậm hơn kế từ cuối tháng 6, từ 9% xuống 8,8%.

NHNN không tăng lãi suất trong nửa cuối năm, mặc dù tín dụng có những thời điểm căng thẳng cục bộ trên thị trường liên ngân hàng. Theo BVSC, có hai nguyên nhân giải thích cho quyết định này của NHNN.

Thứ nhất, NHNN muốn ưu tiên hơn cho việc đạt mục tiêu tăng trưởng tín dụng của cả năm. Việc đạt được mục tiêu tăng trưởng tín dụng có một ý nghĩa quan trọng, do nó là một chỉ báo quan trọng cho thấy nền kinh tế đã phục hồi sau giai đoạn suy thoái. Qua đó NHNN không muốn làm thị trường thất vọng bằng cách tăng lãi suất.

Thứ hai, lạm phát cuối năm luôn được duy trì ở mức thấp, dưới 1%, cho nên với mức lãi suất danh nghĩa hiện tại, lãi suất thực tế (sau khi trừ lạm phát) đã được duy trì ở mức cao.

Ba lý do tạo áp lực tăng lãi suất

Thị trường tín dụng năm 2015 đã một lần nữa khẳng định tăng trưởng tín dụng đã quay trở lại sau khi suy giảm mạnh cách đây hai năm. Tín dụng vào cuối năm 2015 dự kiến tăng khoảng 18% so với cuối năm 2014. Đà tăng trưởng tín dụng này tiếp nối kết quả đạt được của năm 2014 (14%), sau khi suy giảm mạnh vào năm 2013 (3%).

BVSC đánh giá, tín dụng hồi phục cộng với mặt bằng lãi suất ổn định là hai yếu tố quan trọng cho thấy thị trường tiền tệ đã bước vào giai đoạn ổn định, tạo tiền đề quan trọng cho tăng trưởng trong trung hạn của nền kinh tế.

Một yếu tố quan trọng khác giúp thị trường tiền tệ ổn định là nợ xấu trong toàn hệ thống ngân hàng đã giảm xuống 2,72% tổng dư nợ tín dụng vào thời điểm cuối tháng 11/2015, giảm mạnh so mới mức đỉnh điểm trên 17% vào năm 2012.

Tuy nhiên, Công ty này cho hay, thách thức trong điều hành thị trường tiền tệ đối với NHNN trong năm 2016 vẫn rất lớn khi tăng trưởng tín dụng hồi phục cũng đồng thời tạo ra quán tính tăng thêm lớn hơn cho những năm sau, gây áp lực lên mặt bằng lãi suất và lạm phát. Năm 2016 là năm mở đầu cho kế hoạch 5 năm 2016-2020. Chính phủ đã đặt ra mục tiêu tăng trưởng GDP 6,5- 7%, đồng thời duy trì lạm phát mục tiêu ở mức 5-7% trong giai đoạn 5 năm này. Do vậy, áp lực lên thị trường tiền tệ là rất lớn nếu Chính phủ muốn đạt được mục tiêu tăng trưởng cao này.

Ở kịch bản cở sở, BVSC dự báo mặt bằng lãi suất huy động và cho vay sẽ tăng thêm 0,6-1%/năm trong năm 2016. Có ba lý do giải thích cho áp lực gia tăng lãi suất trong năm.

Thứ nhất, tín dụng tăng trưởng mạnh trong năm 2015 sẽ buộc các ngân hàng phải điều chỉnh tăng lãi suất huy động để có thể thu xếp đủ vốn vay cho năm 2016, năm mở đầu của kế hoạch tăng trưởng 5 năm 2016-2020.

Thứ hai, lạm phát sẽ được điều chỉnh dần theo kỳ vọng 5-7% cho giai đoạn 2016-2020, và đây sẽ là cơ sở để tăng lãi suất danh nghĩa.

Thứ ba, NHNN cần duy trì một độ rộng hợp lý cho lãi suất VND so với USD, và việc Cục Dự trữ Liên ban Mỹ (FED) dự kiến điều chỉnh lãi suất tăng thêm 1% trong năm 2016 sẽ gây áp lực tăng lãi suất VND./.

D.T

D.T

Đọc thêm

LPBank nâng tầm trải nghiệm khách hàng Priority qua chuỗi giải Golf Tournament

LPBank nâng tầm trải nghiệm khách hàng Priority qua chuỗi giải Golf Tournament

Trong chiến lược phát triển ngân hàng bán lẻ theo định hướng phân khúc hóa và cá nhân hóa trải nghiệm khách hàng, LPBank không ngừng mở rộng hệ sinh thái dịch vụ dành cho nhóm khách hàng ưu tiên. Chuỗi sự kiện LPBank Priority Golf Tournament 2026 được tổ chức như một hoạt động tiêu biểu nhằm nâng cao trải nghiệm và kết nối cộng đồng khách hàng Priority của ngân hàng.
Tỷ giá USD hôm nay (18/3): Thế giới và "chợ đen" đồng loạt giảm

Tỷ giá USD hôm nay (18/3): Thế giới và "chợ đen" đồng loạt giảm

Sáng ngày 18/3, tỷ giá trung tâm VND với đồng USD tại Ngân hàng Nhà nước ở mức 25.067 VND, giảm 1 VND so với phiên giao dịch trước. Trên thị trường Mỹ, chỉ số US Dollar Index (DXY) đo lường biến động đồng bạc xanh với 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) giảm 0,15%, hiện ở mức 99,57 điểm.
Phó Tổng giám đốc Sacombank Nguyễn Thị Kiều Anh nhận thêm nhiệm vụ

Phó Tổng giám đốc Sacombank Nguyễn Thị Kiều Anh nhận thêm nhiệm vụ

Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank, mã Ck: STB) vừa công bố quyết định bổ nhiệm Phó Tổng giám đốc Nguyễn Thị Kiều Anh kiêm nhiệm vai trò là người quản trị công ty và công bố thông tin.
SMART PACK: Giải pháp tài chính toàn diện giúp chủ đầu tư và nhà thầu tăng tốc dự án

SMART PACK: Giải pháp tài chính toàn diện giúp chủ đầu tư và nhà thầu tăng tốc dự án

Đáp ứng nhu cầu ngày càng lớn của ngành xây dựng, VietinBank ra mắt SMART PACK - gói giải pháp tài chính thiết kế riêng cho chủ đầu tư và nhà thầu xây lắp. Chương trình giúp doanh nghiệp tối ưu dòng tiền, tiết giảm chi phí và nâng cao hiệu quả tài chính.
Đề xuất nới giới hạn cấp tín dụng lên 52% cho dự án quan trọng tại Thủ đô

Đề xuất nới giới hạn cấp tín dụng lên 52% cho dự án quan trọng tại Thủ đô

Ngân hàng Nhà nước đề xuất cho phép các dự án lớn, quan trọng tại Thủ đô được vay vượt giới hạn, với mức tối đa 38% vốn tự có cho một khách hàng và 52% với nhóm liên quan. Cơ chế này có thể mở ra quy mô khoản cấp tín dụng vượt giới hạn lên tới hàng trăm nghìn tỷ đồng với nhóm khách hàng liên quan.
MSB “siết nợ” nhà máy sợi dệt 40.000 m2 của Công ty An Phước

MSB “siết nợ” nhà máy sợi dệt 40.000 m2 của Công ty An Phước

Ngân hàng MSB vừa thông báo thu giữ tài sản đảm bảo của Công ty cổ phần Đầu tư Phát triển Sản xuất và Xuất Nhập khẩu An Phước do vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Tài sản gồm nhà máy sợi gai tại Thanh Hóa diện tích hơn 40.000 m2 cùng toàn bộ máy móc, dây chuyền sản xuất.
VietABank ra mắt nền tảng ezSHOP -  giải pháp trọn gói cho hộ kinh doanh

VietABank ra mắt nền tảng ezSHOP - giải pháp trọn gói cho hộ kinh doanh

VietABank vừa tổ chức Hội thảo chuyên đề “Giải pháp hỗ trợ hộ kinh doanh trên hành trình chuyển đổi số”; đồng thời, chính thức giới thiệu nền tảng số VietABank ezSHOP - giải pháp tích hợp các công cụ quản lý kinh doanh, thanh toán và hỗ trợ tuân thủ thuế dành riêng cho hộ kinh doanh.
BIDV viết tiếp thập kỷ dẫn đầu với cú đúp giải thưởng "Ngân hàng Bán lẻ tốt nhất Việt Nam" và "Sản phẩm tiền gửi tốt nhất châu Á - Thái Bình Dương"

BIDV viết tiếp thập kỷ dẫn đầu với cú đúp giải thưởng "Ngân hàng Bán lẻ tốt nhất Việt Nam" và "Sản phẩm tiền gửi tốt nhất châu Á - Thái Bình Dương"

Vừa qua, tại Thượng Hải - Trung Quốc, trong khuôn khổ lễ trao giải TAB Global Excellence in Retail Finance Awards 2026, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) được Tạp chí The Asian Banker vinh danh với bộ đôi giải thưởng danh giá gồm “Ngân hàng Bán lẻ tốt nhất Việt Nam” và “Sản phẩm tiền gửi tốt nhất khu vực châu Á - Thái Bình Dương”.
Xem thêm
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0,20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80