Mục tiêu tăng trưởng GDP 6,5% năm 2023 khó khả thi

Hoàng Yến
Tình hình kinh tế quý III đã có nhiều nét tích cực hơn. Tăng trưởng kinh tế nhiều khả năng sẽ được cải thiện trong các quý tới. Dù vậy, để đạt được mục tiêu tăng trưởng 6,5% cả năm thì tăng trưởng quý IV cần đạt trên 12% là điều không khả thi. Đây là nhận định của Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê Nguyễn Thị Hương, trong cuộc trao đổi với phóng viên TBTCVN về tình hình kinh tế năm 2023.
aa
Mục tiêu tăng trưởng GDP 6,5% năm 2023 khó khả thi
Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện tại Việt Nam 9 tháng năm 2023 ước đạt 15,91 tỷ USD. Ảnh: TL

PV: Thưa bà, bà đánh giá thế nào về những điểm sáng trong tình hình kinh tế 9 tháng năm 2023?

Mục tiêu tăng trưởng GDP 6,5% năm 2023 khó khả thi

Bà Nguyễn Thị Hương: Nhìn chung, trong bối cảnh kinh tế thế giới còn nhiều bất ổn, khó khăn nhưng tăng trưởng kinh tế 9 tháng năm 2023 của nước ta duy trì đà tăng trưởng tích cực, quý sau cao hơn quý trước. Cụ thể là quý I tăng 3,28%, quý II tăng 4,05%, quý III tăng 5,33%.

Trong đó, có một số điểm sáng đáng chú ý như là sản xuất công nghiệp tiếp tục khởi sắc hơn, chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 9/2023 ước tăng 5,1% (tăng/giảm so với cùng kỳ năm trước). Hoạt động thương mại dịch vụ trong tháng 9 sôi động và duy trì mức tăng cao so với cùng kỳ năm trước.

Tính chung 9 tháng năm 2023, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 9,7% so với cùng kỳ năm trước. Khách quốc tế đến Việt Nam 9 tháng ước đạt 8,9 triệu lượt khách, gấp 4,7 lần cùng kỳ năm 2022.

Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội có xu hướng tăng cao, hỗ trợ tích cực cho tăng trưởng kinh tế những tháng cuối năm. Thu hút vốn đầu tư nước ngoài tính đến 20/9/2023 tiếp tục là điểm sáng trong bối cảnh kinh tế thế giới gặp nhiều khó khăn. Cán cân thương mại hàng hóa 9 tháng ước tính xuất siêu 21,68 tỷ USD, cao hơn nhiều so với mức cùng kỳ năm trước là 6,9 tỷ USD.

Cùng với đó, lạm phát được kiểm soát tốt theo mục tiêu đề ra. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân 9 tháng tăng 3,16%, thấp hơn mục tiêu 4,5% của cả năm 2023.

PV: Bên cạnh những điểm tích cực thì đâu là những mặt hạn chế của nền kinh tế, nhìn thấy qua các con số thống kê, thưa bà?

Bà Nguyễn Thị Hương: Bên cạnh các yếu tố thuận lợi, cũng một số khó khăn, hạn chế đã kìm hãm tăng trưởng của 9 tháng năm 2023.

Đó là cầu thế giới phục hồi yếu, lạm phát vẫn ở mức cao, chi phí nguyên, nhiên, vật liệu tăng cao, chuỗi cung ứng thiếu ổn định đều dẫn tới năng lực sản xuất của doanh nghiệp giảm sút. Động lực từ khu vực sản xuất còn khá yếu do thiếu hụt đơn hàng. Chi phí đầu vào tăng cao. Thị trường xuất khẩu thu hẹp… Hoạt động xuất, nhập khẩu phục hồi chậm do nhu cầu thế giới giảm.

Thị trường bất động sản vẫn tiếp tục ảm đạm, dòng tiền luân chuyển hạn chế, đặc biệt trong bối cảnh áp lực đáo hạn và trả nợ trái phiếu doanh nghiệp năm 2023 lớn. Thu hút FDI chưa thực sự hiệu quả và bền vững.

Những điều này đã thể hiện qua một số con số như giá trị tăng thêm ngành công nghiệp 9 tháng năm 2023 tăng 1,65%, là mức tăng thấp nhất của cùng kỳ các năm trong giai đoạn 2011 - 2023.

Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) 9 tháng năm 2023 ước tăng thấp 0,3% (cùng kỳ năm 2022 tăng 9,3%) do đơn hàng sụt giảm, kim ngạch xuất khẩu giảm. Nhiều ngành công nghiệp trọng điểm giảm so với cùng kỳ năm trước và giảm ở nhiều địa phương có quy mô công nghiệp lớn. Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa 9 tháng năm 2023 giảm 8,2% và giảm ở nhiều mặt hàng.

Doanh nghiệp thành lập mới có mức vốn đăng ký bình quân sụt giảm mạnh. Tổng vốn đăng ký của doanh nghiệp thành lập mới 9 tháng đạt 1.086,8 nghìn tỷ đồng, giảm 14,6%.

CPI tháng 9 tăng 3,66%, là mức tăng cao nhất kể từ tháng 3 năm 2023. Lạm phát cơ bản bình quân 9 tháng năm 2023 tăng 4,49%, cao hơn lạm phát chung (3,16%) và là mức tăng cao nhất của cùng kỳ trong 5 năm qua. Đây là một thách thức đối với việc điều hành chính sách tiền tệ.

PV: Với tình hình như vậy, khả năng tăng trưởng những tháng cuối năm như thế nào, chúng ta có thể đạt mục tiêu tăng trưởng năm nay không?

Bà Nguyễn Thị Hương: Kinh tế toàn cầu năm 2023 được nhiều tổ chức quốc tế dự báo sẽ khả quan hơn so với đánh giá đầu năm, do nhận định tăng trưởng 6 tháng cuối năm sẽ khá hơn nhưng vẫn thấp hơn tốc độ tăng trưởng năm 2022 từ 0,1 đến 1 điểm phần trăm.

Ở trong nước, mặc dù vẫn còn nhiều khó khăn nhưng kinh tế Việt Nam quý III và 9 tháng đầu năm vẫn đang trong xu hướng cải thiện. Trong 3 tháng cuối năm, kinh tế của Việt Nam vẫn có triển vọng tăng trưởng từ một số yếu tố tích cực.

Đó là, cầu đầu tư sẽ được hỗ trợ lớn từ đầu tư công đang được triển khai ráo riết. Đầu tư công sẽ là đòn bẩy cho các luồng đầu tư ngoài nhà nước và đầu tư FDI. Cầu tiêu dùng sẽ có thể cải thiện do xu thế tiêu dùng thường tăng vào cuối năm.

Về phía cung, ngành nông nghiệp sẽ tiếp tục thể hiện vai trò là “trụ đỡ” vững chắc của nền kinh tế. Khu vực công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp chế biến chế tạo thoát khỏi vòng suy giảm âm từ đầu năm và có dấu hiệu khởi sắc trong quý III sẽ giảm tối đa áp lực cho tăng trưởng.

Hoạt động xuất nhập khẩu những tháng cuối năm có khả năng được cải thiện do hoạt động sản xuất đã bớt khó khăn. Một số nền kinh tế phát triển như Mỹ, Nhật Bản có dấu hiệu tăng trở lại.

Lạm phát được kiểm soát hiệu quả sẽ giúp ổn định dòng tiền là yếu tố quan trọng cho tăng trưởng kinh tế. Mặt bằng lãi suất đã giảm và dự kiến lãi suất cho vay khả năng tiếp tục giảm trong thời gian tới sẽ kích thích tăng trưởng, hỗ trợ sản xuất kinh doanh và tiêu dùng.

Từ các nhận định trên, tăng trưởng kinh tế nhiều khả năng sẽ được cải thiện trong các quý tới. Dù vậy, để đạt được mục tiêu tăng trưởng 6,5% cả năm thì tăng trưởng quý IV cần đạt trên 12%. Đây là điều không khả thi trong bối cảnh kinh tế hiện nay.

PV: Vậy Việt Nam cần làm gì để có các động lực tăng trưởng mới, vượt qua những thách thức hiện nay?

Bà Nguyễn Thị Hương: Để phát triển đường dài nhanh và bền vững, Việt Nam cần phải đảm bảo giữ ổn định kinh tế vĩ mô, nâng cao khả năng chống chịu, củng cố các động lực tăng trưởng truyền thống vừa tạo không gian đủ rộng để khai thác hiệu quả các mô hình, động lực tăng trưởng mới.

Trong bối cảnh hiện nay, việc hoàn thiện, nâng cao chất lượng thể chế kinh tế, thúc đẩy chuyển đổi số, tăng trưởng xanh và chuyển đổi năng lượng, phát triển các mô hình kinh tế hiện đại sẽ là các động lực mới cho nền kinh tế.

PV: Xin cảm ơn bà!

Phát triển mô hình kinh tế hiện đại thành động lực tăng trưởng mới

Theo Tổng cục trưởng Nguyễn Thị Hương, một trong số các mô hình kinh tế hiện đại đang được nhiều quốc gia hướng đến và được coi là một động lực tăng trưởng kinh tế mới là kinh tế ban đêm. Phát triển kinh tế ban đêm sẽ đồng thời thúc đẩy ngành du lịch, một

động lực quan trọng của nền kinh tế trước dịch Covid. Để phát triển mô hình kinh tế ban đêm, cần tổ chức tốt các mô hình phố đi bộ, chợ đêm, các chương trình nghệ thuật, vui chơi, giải trí và cơ sở hạ tầng hỗ trợ như phương tiện công cộng...

Hoàng Yến

Đọc thêm

Chính sách thuế mới tạo đà cho hộ kinh doanh phát triển bền vững

Chính sách thuế mới tạo đà cho hộ kinh doanh phát triển bền vững

TS. Phan Phương Nam - Phó Trưởng khoa Luật Thương mại (Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh) nhấn mạnh, công tác tuyên truyền, hỗ trợ cần được chú trọng, để chính sách thuế đối với hộ kinh doanh phát huy tối đa hiệu quả quản lý nhà nước, đồng thời tạo đà phát triển bền vững cho khu vực kinh tế cá thể.
Giảm thuế nhập khẩu xăng dầu về 0%: Hỗ trợ kịp thời, nhưng cần thêm “bộ đệm” chính sách

Giảm thuế nhập khẩu xăng dầu về 0%: Hỗ trợ kịp thời, nhưng cần thêm “bộ đệm” chính sách

Theo PGS.TS Ngô Trí Long (Hiệp hội Tư vấn tài chính Việt Nam), việc giảm thuế nhập khẩu xăng dầu về 0% đến hết tháng 4/2026 là một giải pháp tài khóa đúng lúc, hợp lý và có tác dụng giảm áp lực, nhưng để ổn định thị trường một cách bền vững, thì vẫn phải đi cùng các công cụ khác, chứ không thể dựa riêng vào giảm thuế.
Chính sách tài khóa tiếp tục tạo động lực cho tăng trưởng bền vững

Chính sách tài khóa tiếp tục tạo động lực cho tăng trưởng bền vững

ThS. Lê Thị Mai Liên - Trưởng ban Kinh tế vĩ mô và dự báo, Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính (Bộ Tài chính) cho rằng, cần phối hợp đồng bộ các động lực, để nền kinh tế có thêm dư địa thúc đẩy tăng trưởng nhanh và bền vững trong thời gian tới.
Tăng “sức đề kháng” chuỗi cung ứng trước biến động địa chính trị Trung Đông

Tăng “sức đề kháng” chuỗi cung ứng trước biến động địa chính trị Trung Đông

Trả lời phóng viên, TS. Nguyễn Sơn - Giảng viên ngành quản lý chuỗi cung ứng và logistics, Đại học RMIT Việt Nam cho rằng, rủi ro địa chính trị tại Trung Đông đang tác động tới thương mại và vận tải quốc tế. Việc tăng “sức đề kháng” chuỗi cung ứng sẽ là yếu tố then chốt giúp doanh nghiệp Việt Nam duy trì lợi thế cạnh tranh trong bối cảnh bất ổn toàn cầu.
Chứng khoán Việt có điểm tựa từ nền tảng vĩ mô và triển vọng nâng hạng

Chứng khoán Việt có điểm tựa từ nền tảng vĩ mô và triển vọng nâng hạng

Theo ông Đinh Quang Hinh - Trưởng bộ phận Vĩ mô và Chiến lược Thị trường, Công ty Chứng khoán VNDIRECT, căng thẳng tại Trung Đông và đà tăng mạnh của giá dầu đã tác động tới tâm lý nhà đầu tư trên thị trường tài chính. Tuy vậy, nền tảng kinh tế ổn định, dư địa chính sách và triển vọng nâng hạng vẫn được kỳ vọng giúp chứng khoán Việt Nam duy trì sự cân bằng trước các biến động bên ngoài.
Biến động Trung Đông và bài toán ứng phó của doanh nghiệp logistics

Biến động Trung Đông và bài toán ứng phó của doanh nghiệp logistics

Ông Phạm Quang Long - Giám đốc kinh doanh và phát triển thị trường, Công ty Allied Movers tại Việt Nam cho rằng, xung đột tại Trung Đông tác động tới vận tải biển và hàng không quốc tế, làm gia tăng chi phí và rủi ro logistics. Theo đó, Việt Nam cần củng cố hạ tầng và năng lực logistics để tận dụng cơ hội trong cấu trúc thương mại mới. Về phía doanh nghiệp, cần chủ động thích ứng và có chiến lược kinh doanh phù hợp.
Chủ động xây dựng kịch bản ứng phó với tác động từ xung đột tại Trung Đông

Chủ động xây dựng kịch bản ứng phó với tác động từ xung đột tại Trung Đông

Theo TS. Nguyễn Sơn - giảng viên ngành quản lý chuỗi cung ứng và logistics, Đại học RMIT Việt Nam, để giảm thiểu tác động từ xung đột tại Trung Đông, doanh nghiệp Việt cần chủ động rà soát hợp đồng quốc tế, đa dạng hóa nguồn cung nguyên liệu, điều chỉnh chiến lược logistics và xây dựng kịch bản ứng phó nếu xung đột kéo dài.
Dự báo diễn biến giá vàng khi xung đột Trung Đông “dậy sóng”

Dự báo diễn biến giá vàng khi xung đột Trung Đông “dậy sóng”

Xung đột tại Trung Đông đang khiến thị trường tài chính toàn cầu biến động mạnh, trong đó, vàng tiếp tục là tâm điểm chú ý của nhà đầu tư. TS. Lê Bá Chí Nhân - chuyên gia kinh tế cao cấp cho rằng, biến động quốc tế ngày càng lớn, nếu thiếu cơ chế giao dịch minh bạch, rủi ro đầu cơ và chênh lệch giá vàng sẽ lặp lại. Vì vậy, cần sớm hình thành sàn giao dịch vàng quốc gia và mở rộng nguồn cung theo lộ trình có kiểm soát.
Xem thêm