Năm 2019: Tăng trưởng kinh tế có thể đạt mức 6,86%

Toàn cảnh hội thảo.
Song để đạt được mục tiêu này, đòi hỏi tiếp tục sự nỗ lực và phối hợp đồng bộ của các bộ ngành trong thực hiện mục tiêu tăng trưởng và ổn định vĩ mô.
Nhiều “điểm sáng” trong ổn định kinh tế vĩ mô
Tại Tọa đàm khoa học “Báo cáo tổng quan kinh tế giữa kỳ 2019” do NCIF tổ chức ngày 11/7, bà Trần Thị Hồng Minh – Giám đốc NCIF cho biết, nhìn lại nửa đầu năm 2019, trong bối cảnh thương mại, đầu tư toàn cầu không khả quan như dự báo, kinh tế thế giới tăng trưởng chậm lại, song kinh tế Việt Nam vẫn đạt nhiều kết quả tích cực. Cụ thể, tốc độ tăng trưởng GDP 6 tháng đầu năm đạt 6,76%, tuy không cao bằng cùng kỳ năm 2018 (7,05%) nhưng vẫn là mức cao so với cùng kỳ các năm giai đoạn 2011 - 2017. Trong đó, khu vực công nghiệp và xây dựng tiếp tục giữ vai trò động lực thúc đẩy tăng trưởng của nền kinh tế, khi đóng góp 51,8% vào tốc độ tăng trưởng GDP chung (so với mức đóng góp 48,9% của cùng kỳ năm 2018).
Đặc biệt, ổn định vĩ mô được duy trì, lạm phát trong tầm kiểm soát (với chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân 6 tháng đầu năm 2019 chỉ tăng 2,64%, mức thấp nhất trong 3 năm trở lại đây), thị trường tài chính tiền tệ không có nhiều biến động lớn, cân đối thu chi ngân sách nhà nước được đảm bảo…
Bên cạnh những kết quả tích cực, theo bà Minh, nửa đầu năm 2019, kinh tế Việt Nam vẫn còn phải đối mặt với nhiều thách thức. Cụ thể, ngành nông nghiệp chịu ảnh hưởng tiêu cực bởi dịch bệnh, đặc biệt là dịch tả lợn Châu Phi lây lan trên diện rộng; xuất khẩu nông sản chịu áp lực cạnh tranh lớn và sự gia tăng các rào cản thương mại nhất là từ thị trường Trung Quốc, trong khi đây là mặt hàng khó dịch chuyển thị trường. Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng trưởng chậm hơn so với cùng kỳ. Bên cạnh đó, việc giải ngân vốn đầu tư công, cổ phần hóa, thoái vốn ở doanh nghiệp (DN) nhà nước tại nhiều địa phương còn chậm; nguy cơ lạm phát vẫn còn thường trực do tác động của nhiều yếu tố như xu hướng tăng giá dầu thô trên thị trường quốc tế và việc thực hiện lộ trình tăng giá đối với một số mặt hàng thiết yếu (như điện, dịch vụ giáo dục, y tế)....
Cần nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế
Ông Đặng Đức Anh – Phó Giám đốc NCIF cho biết, trong những tháng còn lại của năm 2019, kinh tế Việt Nam tiếp tục chịu ảnh hưởng đan xen của những yếu tố cả tích cực và tiêu cực đến từ kinh tế quốc tế và các yếu tố từ bản thân nội tại của nền kinh tế Việt Nam. Về mặt tích cực, kinh tế Việt Nam được hỗ trợ bởi cầu nội địa gia tăng mạnh mẽ nhờ có dòng vốn tăng từ du lịch, kiều hối và đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Mặt khác, tăng trưởng nhiều khả năng được giữ vững trong thời gian tới, với sự hỗ trợ của ngành công nghiệp chế biến chế tạo, định hướng xuất khẩu và cơ chế thúc đẩy các nguồn lực xã hội vào sản xuất kinh doanh... Bên cạnh đó, động lực tăng trưởng dự kiến sẽ được tiếp tục tăng cường nhờ những cải cách đang diễn ra để cải thiện môi trường kinh doanh và khuyến khích đầu tư tư nhân, cũng như tận dụng những cơ hội của hội nhập quốc tế khi Việt Nam tham gia nhiều hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới…
Cũng theo ông Đặng Đức Anh, song hành với những yếu tố thuận lợi, kinh tế Việt Nam vẫn phải đối mặt với khó khăn khi một số ngành vốn là động lực tăng trưởng cho nền kinh tế (như điện tử, điện thoại, khai khoáng) không còn duy trì tốc độ tăng trưởng cao như giai đoạn trước; sức ép lạm phát và áp lực tỷ giá vẫn rất lớn do tác động từ nhiều phía. Hơn nữa, nền kinh tế Việt Nam hiện nay nhìn chung vẫn có năng suất lao động thấp; môi trường kinh doanh đã được cải thiện nhưng chưa thuận lợi; các DN, đặc biệt là DN tư nhân còn có quy mô nhỏ, công nghệ lạc hậu; tăng trưởng kinh tế còn phụ thuộc nhiều vào các DN FDI...
Từ những phân tích trên, theo NCIF dự báo, tốc độ tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm 2019 sẽ ở mức 6,86%, vượt mục tiêu Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2019 (6,6 - 6,8%). CPI bình quân năm 2019 dự kiến tăng 3,13% (so với kế hoạch khoảng 4%).
Để duy trì được tốc độ tăng trưởng kinh tế như mục tiêu đề ra, theo ông Lê Xuân Sang – Phó Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam, cần tập trung vào một số vấn đề, như tiếp tục thực hiện các giải pháp nâng cao năng suất, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế; tăng cường các biện pháp đẩy nhanh giải ngân vốn đầu tư công. Bên cạnh đó, cần tận dụng tối đa nguồn vốn đầu tư nước ngoài đang có xu hướng chuyển dịch vào Việt Nam do tác động của chiến tranh thương mại Mỹ - Trung, cũng như tăng cường công tác dự báo, cảnh báo, chủ động phòng tránh, ứng phó với các biện pháp phòng vệ thương mại áp dụng lên hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam. Ngoài ra, cần thúc đẩy tìm kiếm khả năng mở rộng các thị trường xuất khẩu mới còn tiềm năng, đồng thời củng cố và mở rộng thị phần hàng hóa Việt Nam tại thị trường truyền thống, thị trường là đối tác của các FTA…
Đặc biệt, các bộ, ngành và địa phương cần phối hợp để thực hiện đồng bộ các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho DN, nhất là cần có chế tài để kiểm soát chặt chẽ việc phát sinh các giấy phép con, thủ tục hành chính mới gây ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động sản xuất kinh doanh của DN. Đồng thời, cần tạo điều kiện cho các DN có sự chuẩn bị tốt về công nghệ, vốn, thông tin và khả năng kết nối với các DN FDI để đón đầu các FTA mới....
Diệu Thiện
Dành cho bạn
Đọc thêm
Cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng kinh phí quản lý hành chính
Kho bạc Nhà nước triển khai đồng bộ Nghị quyết Đại hội XIV trong toàn hệ thống
Bộ Tài chính nêu tên nhiều đơn vị chậm kiểm kê tài sản công
Dự trữ quốc gia cần hướng tới nguồn lực chiến lược bảo đảm an ninh kinh tế
TP. Hồ Chí Minh dùng công cụ tài chính để hướng dòng kiều hối đầu tư vào khoa học công nghệ
Bộ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Văn Thắng tiếp Tổng Giám đốc Ngân hàng ICBC Lưu Tuấn


