Ngành nông nghiệp duy trì tăng trưởng trong bối cảnh thị trường gặp khó

Khánh Linh
Mặc dù gặp nhiều khó khăn do bối cảnh khách quan, nhưng ngành nông nghiệp tiếp tục tăng trưởng trong quý I/2023. Ngành này cũng đặt mục tiêu trong quý II/2023, tăng trưởng giá trị gia tăng là 2,9 - 3,0%. Tổng kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản khoảng 14 tỷ USD.
aa

Ngày 31/3, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) tổ chức họp báo thường kỳ quý I và một số nhiệm vụ trọng tâm quý II/2023.

Tốc độ tăng trưởng Nông nghiệp gia tăng trong quý I/2023
Tốc độ tăng trưởng nông nghiệp gia tăng trong quý I/2023. Ảnh: NNK

Tốc độ tăng trưởng nông nghiệp đạt 2,52% trong quý I/2023

Báo cáo kết quả của ngành NN&PTNT 3 tháng đầu năm, ông Nguyễn Văn Việt - Vụ trưởng Vụ Kế hoạch (Bộ NN&PTNT) cho biết, 3 tháng đầu năm, ngành nông nghiệp, nông thôn thực hiện kế hoạch trong điều kiện thời tiết khá thuận lợi, dịch bệnh trên gia súc, gia cầm được kiểm soát nhưng giá trị vật tư, nguyên liệu đầu vào phục vụ sản xuất nông nghiệp vẫn ở mức cao.

Tuy nhiên, ngành nông nghiệp đã chủ động phối hợp với các bộ, ngành, địa phương tập trung triển khai các giải pháp nhằm ổn định sản xuất, ứng phó với biến động thị trường, thời tiết, tăng cường đàm phán mở cửa thị trường nhằm đẩy mạnh tiêu thụ nông sản. Nhờ vậy, nông nghiệp vẫn đạt tăng trưởng khá; đảm bảo đủ nguồn cung lương thực, thực phẩm, hàng hóa thiết yếu, góp phần ổn định xã hội và an sinh xã hội.

"Theo Tổng cục Thống kê, tốc độ tăng trưởng giá trị gia tăng của khu vực nông lâm thủy sản quý I ước đạt 2,52% so với cùng kỳ năm 2022; trong đó nông nghiệp tăng 2,43%, lâm nghiệp tăng 3,36% và thủy sản tăng 2,68%" - ông Việt nêu rõ.

Một số lĩnh vực có điểm sáng về tăng trưởng như lĩnh vực trồng trọt. Theo đó, giá trị sản xuất trồng trọt tăng khoảng 1,21% so với cùng kỳ năm 2022, chiếm 59,5% tỷ trọng giá trị sản xuất của lĩnh vực nông nghiệp chung. Đóng góp vào tăng trưởng ngành trồng trọt là lúa gạo, "vừa được mùa, vừa được giá", trong đó, đến nay đã thu hoạch đạt 1.355,4 nghìn ha lúa, tăng 5,9%, năng suất bình quân đạt 67,1 tạ/ha, tăng 1,1 tạ/ha; sản lượng đạt khoảng 9,1 triệu tấn, tăng 7,6%. Nhóm rau quả tăng; nhóm cây công nghiệp cũng tăng.

Năm 2023, ngành nông nghiệp đặt mục tiêu xuất khẩu nông lâm thủy sản khoảng 54 tỷ USD.

Đối với lĩnh vực chăn nuôi, dù dịch bệnh trên gia súc, gia cầm được kiểm soát tốt nhưng chăn nuôi lợn gặp khó khăn do giá bán thịt hơi vẫn ở mức thấp trong khi giá nguyên liệu chế biến thức ăn chăn nuôi tăng cao. Chăn nuôi gia cầm trên cả nước phát triển ổn định. Giá trị sản xuất quý I tăng khoảng 4,69%, chiếm 35,2% tỷ trọng giá trị sản xuất của lĩnh vực nông nghiệp chung; với sản lượng thịt hơi các loại chính đạt trên 1,9 triệu tấn, tăng 6,0% so cùng kỳ năm trước (CKNT).

Tiếp theo là tăng trưởng lĩnh vực lâm nghiệp khá cao, ước đạt 3,66% so với CKNT. Đến nay có 718 chủ rừng quản lý 7,65 triệu ha rừng và đất lâm nghiệp, 417 phương án quản lý rừng bền vững được phê duyệt, đạt 58% tổng số phương án cần phê duyệt. Tương tự, lĩnh vực thủy sản quý I tăng khoảng 2,68% so với CKNT.

Về thương mại, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng nông, lâm, thủy sản 3 tháng đầu năm ước đạt 20,63 tỷ USD, giảm 11,2% so với cùng kỳ năm trước.

Tốc độ tăng trưởng Nông nghiệp gia tăng trong quý I/2023
Xuất khẩu gạo là một trong những điểm sáng về xuất khẩu nông lâm thủy sản. Ảnh: TL

Mở rộng thị trường, tạo động lực tăng trưởng mới

Theo Bộ NNPTNT, việc xuất khẩu nông lâm thủy sản khó khăn trong những tháng đầu năm 2023 Bộ đã dự báo được tình hình từ cuối năm 2022.

Nguyên nhân suy giảm do kinh tế toàn cầu năm 2023 dự báo tăng trưởng chậm lại; ảnh hưởng từ xung đột quân sự Nga - Ukraine; tình trạng lạm phát cao tại một số nước trên thế giới đã làm giảm nhu cầu tiêu dùng, nhu cầu nhập khẩu. Thêm vào đó, do sau khi dịch bệnh Covid-19 được kiểm soát, nhiều nước tái xuất khẩu nông sản và tăng cung trên thị trường; trong khi ở trong nước, nhiều doanh nghiệp chưa ký được đơn hàng xuất khẩu mới năm 2023.

Trong quý II/2023, mục tiêu tăng trưởng giá trị gia tăng toàn ngành nông nghiệp là 2,9 - 3,0%. Tổng kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản khoảng 14 tỷ USD.

Ông Việt nhấn mạnh, có hai khó khăn lớn nhất mà ngành nông nghiệp xác định là thị trường xuất khẩu và thị trường nội địa - sức mua giảm. Ngành sẽ tập trung tháo gỡ hai khó khăn này.

Đối với vấn đề thị trường, ngành tăng cường hợp tác quốc tế, phát triển thị trường thúc đẩy tiêu thụ nông sản. Cụ thể, trong tháng 4/2023, ngành NN&PTNT đẩy mạnh phát triển thị trường, tháo gỡ rào cản, tạo thuận lợi cho tiêu thụ trong nước và xuất khẩu; hỗ trợ doanh nghiệp ký kết đơn hàng xuất khẩu mới.

Đồng thời, tổ chức hội nghị các tỉnh biên giới về kết nối giao thương, thúc đẩy thương mại nông sản Việt Nam - Trung Quốc; tham gia chuỗi sự kiện quảng bá nông sản chủ lực của Việt Nam tại Vương quốc Anh; chuỗi sự kiện thực phẩm và đồ uống quốc tế tại Anh nằm trong dịp kỷ niệm 50 năm quan hệ Việt Nam - Anh...

Đặc biệt, để đạt được mục tiêu này trong bối cảnh xuất khẩu sụt giảm mạnh trong quý I, thời gian tới, Bộ NNPTNT nắm bắt tình hình sản lượng các loại cây ăn quả chủ lực phục vụ xuất khẩu như thanh long, nhân xoài, sầu riêng, cây có mùi đề xuất chỉ đạo rải vụ cây trồng phù hợp với thị trưởng tiêu thụ, có giá bản tốt và hiệu quả kinh tế cao.

Bên cạnh đó, kiểm soát tốt tình hình dịch bệnh; theo dõi sát diễn biển thị trường nguyên liệu, nguồn cung và giả nguyên liệu thức ăn chăn nuôi, giống vật nuôi, có biện pháp chỉ đạo kịp thời tránh tình trạng tăng đột biến về giá cả. Bộ sẽ nghiên cứu, đề xuất kế hoạch xây dựng vùng sản xuất nguyên liệu thức ăn chăn nuôi (ngô, sẵn), tập trung vào một số khu vực có tiềm năng như Tây Nguyên, Miền núi phía Bắc.

Trong lĩnh vực thủy sản sẽ kiểm tra, theo dõi thi hành pháp luật về thủy sản tại địa phương về khai thác hải sản bất hợp pháp, không khai báo và không theo quy định; theo dõi diễn biến của thời tiết, dự báo ngư trưởng, nhu cầu của thị trưởng kịp thời chỉ đạo sản xuất nuôi trồng, khai thác thủy sản hiệu quả, đạt các mục tiêu kế hoạch năm...

Tại hội nghị giao ban quý I/2023 của Bộ NN&PTNT mới đây, Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Lê Minh Hoan nhấn mạnh, càng khó khăn, thách thức càng đòi hỏi chúng ta cũng phải "dốc hết sức" thực hiện đồng bộ, linh hoạt, sáng tạo các giải pháp và tiếp tục đổi mới, mà rộng tư duy, hành động nhanh, kết quả thi để khai thông thị trường, trong động lực tăng trưởng mới phấn đấu đạt các mục tiêu phát triển.
Khánh Linh

Đọc thêm

Đa dạng hóa kênh dẫn vốn đáp ứng nhu cầu đầu tư của nền kinh tế

Đa dạng hóa kênh dẫn vốn đáp ứng nhu cầu đầu tư của nền kinh tế

Khi nhu cầu vốn cho hạ tầng, công nghiệp và chuyển đổi xanh ngày càng lớn, mô hình phụ thuộc chủ yếu vào tín dụng ngân hàng đang bộc lộ những giới hạn. Trong bối cảnh đó, việc phát triển thị trường vốn và thu hút dòng vốn quốc tế không chỉ là giải pháp bổ sung, mà đang trở thành động lực then chốt để mở rộng nguồn lực, hướng tới mục tiêu tăng trưởng nhanh và bền vững.
Hải Phòng điều hành kinh tế - xã hội bám sát kịch bản tăng trưởng

Hải Phòng điều hành kinh tế - xã hội bám sát kịch bản tăng trưởng

Kinh tế - xã hội của TP. Hải Phòng luôn ghi nhận nhiều tín hiệu tích cực trên hầu hết các lĩnh vực, cơ bản bám sát kịch bản tăng trưởng đề ra.

TP. Hồ Chí Minh: Muốn tăng trưởng cao phải đổi cách phát triển

Trong bối cảnh kinh tế thế giới biến động và áp lực tăng trưởng ngày càng lớn, TP. Hồ Chí Minh đang đứng trước yêu cầu phải thay đổi mô hình phát triển. Những lợi thế của một trung tâm kinh tế lớn nhất cả nước vẫn lớn, nhưng nếu không tháo gỡ các nút thắt về thể chế, hạ tầng và năng lượng, Thành phố khó bứt phá để trở thành siêu đô thị đổi mới sáng tạo của khu vực.
Bộ Tài chính chủ động kịp thời, giữ ổn định kinh tế vĩ mô

Bộ Tài chính chủ động kịp thời, giữ ổn định kinh tế vĩ mô

Trước những diễn biến phức tạp của xung đột quân sự tại Trung Đông và nguy cơ tác động tới kinh tế toàn cầu, Bộ Tài chính đã nhanh chóng ban hành chỉ đạo yêu cầu toàn Ngành theo dõi sát tình hình, đánh giá đầy đủ các kịch bản tác động và chủ động đề xuất giải pháp điều hành phù hợp.
Chủ động thích ứng, thúc đẩy hoạt động xuất khẩu

Chủ động thích ứng, thúc đẩy hoạt động xuất khẩu

Thủ tướng Chính phủ vừa ký Công điện số 23/CĐ-TTg ngày 16/3/2026 chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương, tập đoàn, tổng công ty nhà nước tiếp tục thực hiện quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả các các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm để chủ động thích ứng linh hoạt với tình hình thế giới, khu vực, thúc đẩy hơn nữa hoạt động xuất khẩu.
Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa chuyển đổi số, phát triển hệ sinh thái số

Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa chuyển đổi số, phát triển hệ sinh thái số

Đề án chuyển đổi số các doanh nghiệp nhỏ và vừa giai đoạn 2026 - 2030 đặt mục tiêu đến năm 2030, có ít nhất 500.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa được hỗ trợ chuyển đổi số và phát triển hệ sinh thái số thông qua các hoạt động của đề án.
Thủ tướng chỉ đạo tiếp tục tháo gỡ các dự án tồn đọng, thúc đẩy tăng trưởng

Thủ tướng chỉ đạo tiếp tục tháo gỡ các dự án tồn đọng, thúc đẩy tăng trưởng

Ngày 16/3, tại trụ sở Chính phủ, Thủ tướng Phạm Minh Chính chủ trì cuộc họp của Thường trực Chính phủ cho ý kiến về một số nội dung quan trọng để tiếp tục tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc, các vấn đề, dự án tồn đọng, kéo dài, khơi thông, giải phóng, huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực, góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế từ 10% trở lên.
Quảng Ninh dự kiến thu hơn 15.600 tỷ đồng từ du lịch trong quý I/2026

Quảng Ninh dự kiến thu hơn 15.600 tỷ đồng từ du lịch trong quý I/2026

Bước vào năm 2026, Quảng Ninh tiếp tục khẳng định vị thế điểm đến hàng đầu khi đón hơn 6,2 triệu lượt khách trong quý I, doanh thu vượt 15.687 tỷ đồng. Những con số này cho thấy sức bật mạnh mẽ và triển vọng tăng trưởng tích cực của ngành du lịch Quảng Ninh.
Xem thêm
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0,20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80