Ngành Nông nghiệp vượt đích xuất khẩu nông lâm thủy sản 2024

Khánh Linh
Tổng kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản 11 tháng năm 2024 đã vượt đích cả năm là 54 - 55 tỷ USD và đang hướng đến kỷ lục mới 60 tỷ USD.
aa
Cán cân thương mại ngành nông lâm thủy sản đạt thặng dư hơn 15 tỷ USD

Theo số liệu của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT), kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản tháng 11/2024 ước đạt 5,3 tỷ USD, tăng 13,9% so với cùng kỳ năm ngoái.

Tổng kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản 11 tháng năm 2024 đạt 56,74 tỷ USD, tăng 19% so với cùng kỳ năm 2023.

Trong 11 tháng, giá trị xuất khẩu các mặt hàng nông sản đạt 29,78 tỷ USD, tăng 23,2%; sản phẩm chăn nuôi đạt 475,5 triệu USD, tăng 4,4%; thủy sản đạt 9,2 tỷ USD, tăng 11,8%; lâm sản đạt 15,59 tỷ USD, tăng 19,6%...

"Với kết quả đạt được, kim ngạch xuất khẩu đã vượt mục tiêu đề ra 54 - 55 tỷ USD cho cả năm 2024, và đang tự tin để hướng tới kỷ lục mới 60 tỷ USD" - Bộ NN&PTNT nhận định.

Ngành Nông nghiệp vượt đích xuất khẩu nông lâm thủy sản 2024
Ngành Nông nghiệp vượt đích xuất khẩu nông lâm thủy sản 2024. Ảnh: TL

Đáng chú ý, cán cân thương mại nông lâm thủy sản Việt Nam đạt thặng dư 16,46 tỷ USD, tăng 52,8% so với cùng kỳ năm trước.

Xét theo mặt hàng, Việt Nam có 7 mặt hàng nông lâm thủy sản có thặng dư thương mại đạt trên 1 tỷ USD, gồm: gỗ và sản phẩm gỗ thặng dư 12,11 tỷ USD, tăng 19,4% so với cùng kỳ năm trước; rau quả 4,56 tỷ USD, tăng 33,9%; cà phê 4,53 tỷ USD, tăng 30,5%; gạo 4,07 tỷ USD, tăng 14,6%; tôm 3,19 tỷ USD, tăng 20,5%; cá tra 1,72 tỷ USD, tăng 10,1%; hạt tiêu thặng dư 1,07 tỷ USD, tăng 43,5%.

Về thị trường xuất khẩu xét theo vùng lãnh thổ, châu Á là thị trường xuất khẩu lớn nhất của các mặt hàng nông lâm thủy sản của Việt Nam với thị phần chiếm 48,2%. 2 thị trường lớn tiếp theo là châu Mỹ và châu Âu với thị phần lần lượt là 23,7% và 11,3%.

Xét theo thị trường cụ thể, Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu dẫn đầu với thị phần chiếm 21,7%, tiếp theo là Trung Quốc với thị phần 21,6% và Nhật Bản với thị phần 6,6%. Đây là 3 thị trường xuất khẩu các mặt hàng nông lâm thủy sản lớn nhất của Việt Nam./.

Ở chiều ngược lại, kim ngạch nhập khẩu nông lâm thủy sản 11 tháng năm 2024 đạt 40,28 tỷ USD, tăng 9,1% so với cùng kỳ năm 2023. Việt Nam nhập khẩu các mặt hàng nông lâm thủy sản nhiều nhất từ các thị trường thuộc khu vực châu Á và châu Mỹ với thị phần lần lượt là 28,7% và 24,2%. Xét theo thị trường, Trung Quốc, Brazil và Hoa Kỳ là 3 thị trường cung cấp các mặt hàng nông lâm thủy sản lớn nhất cho Việt Nam với thị phần lần lượt là 9,6%, 8,1%, và 7,4%.
Khánh Linh

Đọc thêm

Đa dạng hóa kênh dẫn vốn đáp ứng nhu cầu đầu tư của nền kinh tế

Đa dạng hóa kênh dẫn vốn đáp ứng nhu cầu đầu tư của nền kinh tế

Khi nhu cầu vốn cho hạ tầng, công nghiệp và chuyển đổi xanh ngày càng lớn, mô hình phụ thuộc chủ yếu vào tín dụng ngân hàng đang bộc lộ những giới hạn. Trong bối cảnh đó, việc phát triển thị trường vốn và thu hút dòng vốn quốc tế không chỉ là giải pháp bổ sung, mà đang trở thành động lực then chốt để mở rộng nguồn lực, hướng tới mục tiêu tăng trưởng nhanh và bền vững.
Hải Phòng điều hành kinh tế - xã hội bám sát kịch bản tăng trưởng

Hải Phòng điều hành kinh tế - xã hội bám sát kịch bản tăng trưởng

Kinh tế - xã hội của TP. Hải Phòng luôn ghi nhận nhiều tín hiệu tích cực trên hầu hết các lĩnh vực, cơ bản bám sát kịch bản tăng trưởng đề ra.

TP. Hồ Chí Minh: Muốn tăng trưởng cao phải đổi cách phát triển

Trong bối cảnh kinh tế thế giới biến động và áp lực tăng trưởng ngày càng lớn, TP. Hồ Chí Minh đang đứng trước yêu cầu phải thay đổi mô hình phát triển. Những lợi thế của một trung tâm kinh tế lớn nhất cả nước vẫn lớn, nhưng nếu không tháo gỡ các nút thắt về thể chế, hạ tầng và năng lượng, Thành phố khó bứt phá để trở thành siêu đô thị đổi mới sáng tạo của khu vực.
Bộ Tài chính chủ động kịp thời, giữ ổn định kinh tế vĩ mô

Bộ Tài chính chủ động kịp thời, giữ ổn định kinh tế vĩ mô

Trước những diễn biến phức tạp của xung đột quân sự tại Trung Đông và nguy cơ tác động tới kinh tế toàn cầu, Bộ Tài chính đã nhanh chóng ban hành chỉ đạo yêu cầu toàn Ngành theo dõi sát tình hình, đánh giá đầy đủ các kịch bản tác động và chủ động đề xuất giải pháp điều hành phù hợp.
Chủ động thích ứng, thúc đẩy hoạt động xuất khẩu

Chủ động thích ứng, thúc đẩy hoạt động xuất khẩu

Thủ tướng Chính phủ vừa ký Công điện số 23/CĐ-TTg ngày 16/3/2026 chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương, tập đoàn, tổng công ty nhà nước tiếp tục thực hiện quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả các các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm để chủ động thích ứng linh hoạt với tình hình thế giới, khu vực, thúc đẩy hơn nữa hoạt động xuất khẩu.
Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa chuyển đổi số, phát triển hệ sinh thái số

Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa chuyển đổi số, phát triển hệ sinh thái số

Đề án chuyển đổi số các doanh nghiệp nhỏ và vừa giai đoạn 2026 - 2030 đặt mục tiêu đến năm 2030, có ít nhất 500.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa được hỗ trợ chuyển đổi số và phát triển hệ sinh thái số thông qua các hoạt động của đề án.
Thủ tướng chỉ đạo tiếp tục tháo gỡ các dự án tồn đọng, thúc đẩy tăng trưởng

Thủ tướng chỉ đạo tiếp tục tháo gỡ các dự án tồn đọng, thúc đẩy tăng trưởng

Ngày 16/3, tại trụ sở Chính phủ, Thủ tướng Phạm Minh Chính chủ trì cuộc họp của Thường trực Chính phủ cho ý kiến về một số nội dung quan trọng để tiếp tục tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc, các vấn đề, dự án tồn đọng, kéo dài, khơi thông, giải phóng, huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực, góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế từ 10% trở lên.
Quảng Ninh dự kiến thu hơn 15.600 tỷ đồng từ du lịch trong quý I/2026

Quảng Ninh dự kiến thu hơn 15.600 tỷ đồng từ du lịch trong quý I/2026

Bước vào năm 2026, Quảng Ninh tiếp tục khẳng định vị thế điểm đến hàng đầu khi đón hơn 6,2 triệu lượt khách trong quý I, doanh thu vượt 15.687 tỷ đồng. Những con số này cho thấy sức bật mạnh mẽ và triển vọng tăng trưởng tích cực của ngành du lịch Quảng Ninh.
Xem thêm
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0,20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80