Người có lương hưu cao nhất cả nước hiện nay là hơn 124 triệu đồng/tháng

Mai Lâm
Theo thống kê của Bảo hiểm Xã hội Việt Nam, tại thời điểm tháng 4/2023, cả nước có 471 trường hợp đang hưởng lương hưu từ 20 triệu đồng trở lên. Người hiện có mức lương hưu cao nhất cả nước là hơn 124 triệu đồng/tháng.
aa

Có lương hưu cao do đóng bảo hiểm xã hội mức cao trong thời gian dài

Theo quy định, mức hưởng bảo hiểm xã hội được tính trên cơ sở mức đóng, thời gian đóng bảo hiểm xã hội và có chia sẻ giữa những người tham gia bảo hiểm xã hội. Do đó, trong quá trình tham gia bảo hiểm xã hội, nhiều trường hợp người lao động có tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội cao và số năm đóng bảo hiểm xã hội dài nên khi nghỉ hưu có mức hưởng lương hưu khá cao.

Người có lương hưu cao nhất cả nước hiện nay là hơn 124 triệu đồng/tháng
Ảnh minh họa

Bảo hiểm Xã hội Việt Nam cho biết, hiện nay, ông P.P.N.T (cư trú tại TP. Hồ Chí Minh) là người đang có mức lương hưu cao nhất cả nước với hơn 124 triệu đồng/tháng. Trước khi nghỉ hưu, ông T. là Chủ tịch Hội đồng thành viên kiêm Tổng Giám đốc của một công ty. Tháng 4/2015, ông T. nghỉ hưu với mức lương hưu hơn 87,3 triệu đồng/tháng. Sau 5 lần điều chỉnh lương hưu của Nhà nước, đến tháng 6/2023, mức lương hưu của ông T. là 124.714.600 đồng/tháng.

Để có được mức lương hưu như hiện tại, ông T. đã có trên 23 năm đóng bảo hiểm xã hội, trong đó, giai đoạn trước năm 2007 khi quy định tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội theo mức lương thực tế (số tiền đóng bảo hiểm xã hội không bị giới hạn mức trần), mức đóng bảo hiểm xã hội của ông T. rất cao. Có những thời điểm, mức tiền lương đóng bảo hiểm xã hội bình quân của ông T. là hơn 200 triệu đồng/tháng.

Theo Bảo hiểm Xã hội Việt Nam, các trường hợp lương hưu cao trên đều làm việc trong các công ty tư nhân, công ty liên doanh, doanh nghiệp nước ngoài tại Việt Nam, có thời gian đóng bảo hiểm xã hội theo mức lương thực hưởng bằng tiền ngoại tệ hoặc tiền đồng Việt Nam ở mức cao (trước năm 2007) hoặc theo mức tối đa bằng 20 lần mức lương tối thiểu chung/mức lương cơ sở tại thời điểm đóng (từ năm 2007 trở đi).

Khi Luật Bảo hiểm xã hội năm 2006 có hiệu lực, đã quy định mức trần tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc cao nhất bằng 20 tháng lương tối thiểu chung (hoặc lương cơ sở). Theo đó, từ tháng 1/2007 đến tháng 3/2015, ông T. luôn đóng bảo hiểm xã hội ở mức cao nhất theo quy định, với mức tiền lương đóng bảo hiểm xã hội bình quân là 15,4 triệu đồng/tháng. Trong đó, gần 2 năm trước thời điểm nghỉ hưu (mức lương cơ sở khi đó là 1,15 triệu đồng), mức tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội hằng tháng của ông T. là 23 triệu đồng/tháng.

Theo thống kê của Bảo hiểm Xã hội Việt Nam, tại thời điểm tháng 4/2023, cả nước có 471 trường hợp có mức hưởng lương hưu từ 20 triệu đồng trở lên. Trong đó, mức hưởng từ 20 triệu đồng đến dưới 30 triệu đồng là 382 trường hợp; từ 30 triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng là 80 trường hợp; từ 50 triệu đồng trở lên là 9 trường hợp.

Quy định tính mức lương hưu hằng tháng của người lao động

Căn cứ Điều 56 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 và Điều 7 Nghị định số 115/2015/NĐ-CP ngày 11/11/2015 của Chính phủ, mức lương hưu hằng tháng của người lao động được tính bằng tỷ lệ hưởng lương hưu hằng tháng nhân với mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội.

Người có lương hưu cao nhất cả nước hiện nay là hơn 124 triệu đồng/tháng
Tuyên truyền, vận động người dân tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện. Ảnh minh họa

Trong đó, tỷ lệ hưởng lương hưu (từ năm 2022) như sau: Đối với lao động nam nghỉ hưu, cứ 20 năm đóng bảo hiểm xã hội được tính bằng 45% mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội. Đối với lao động nữ nghỉ hưu, cứ 15 năm đóng bảo hiểm xã hội được tính bằng 45% mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội. Sau đó cứ thêm mỗi năm đóng bảo hiểm xã hội, người lao động được tính thêm 2%; mức tối đa bằng 75% mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội.

Mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội được tính theo quy định tại Điều 62 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014.

Cụ thể, người lao động thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định có toàn bộ thời gian đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ tiền lương này thì tính bình quân tiền lương tháng của số năm đóng bảo hiểm xã hội trước khi nghỉ hưu như sau:

Tham gia bảo hiểm xã hội trước ngày 1/1/1995 thì tính bình quân của tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội của 5 năm cuối trước khi nghỉ hưu; tham gia từ 1/1/1995 đến 31/12/2000 thì tính bình quân của tiền lương tháng đóng bảo hiểm của 6 năm cuối trước khi nghỉ hưu; tham gia từ 1/1/2001 đến 31/12/2006 thì tính bình quân của tiền lương tháng đóng bảo hiểm của 8 năm cuối trước khi nghỉ hưu;

Người lao động tham gia bảo hiểm xã hội từ 1/1/2007 đến 31/12/2015 thì tính bình quân của tiền lương tháng đóng bảo hiểm của 10 năm cuối trước khi nghỉ hưu; tham gia từ 1/1/2016 đến 31/12/2019 thì tính bình quân của tiền lương tháng đóng bảo hiểm của 15 năm cuối trước khi nghỉ hưu; tham gia từ 1/1/2020 đến 31/12/2024 thì tính bình quân của tiền lương tháng đóng bảo hiểm của 20 năm cuối trước khi nghỉ hưu; tham gia từ ngày 1/1/2025 trở đi thì tính bình quân của tiền lương tháng đóng bảo hiểm của toàn bộ thời gian.

Đối với người lao động có toàn bộ thời gian đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định thì tính bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội của toàn bộ thời gian.

Trường hợp người lao động vừa có thời gian đóng bảo hiểm xã hội thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định, vừa có thời gian đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định thì tính bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội chung của các thời gian. Trong đó, thời gian đóng theo chế độ tiền lương do Nhà nước quy định được tính bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội theo quy định tại khoản 1 Điều 62 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014.

Hiện, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã đưa ra Dự thảo Thông tư hướng dẫn điều chỉnh lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hằng tháng. Theo đó, từ ngày 1/7/2023, mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hằng tháng sẽ được điều chỉnh tăng thêm.
Mai Lâm

Đọc thêm

Đầu tư tài chính "gánh" bảo hiểm phi nhân thọ

Đầu tư tài chính "gánh" bảo hiểm phi nhân thọ

Trong quý cuối năm 2025, lợi nhuận bảo hiểm cốt lõi của nhiều doanh nghiệp phi nhân thọ và tái bảo hiểm niêm yết giảm mạnh do bão lũ, trong khi lợi nhuận đầu tư trở thành phao cứu sinh cho nhiều doanh nghiệp. Danh mục đầu tư của nhóm này vượt 60.000 tỷ đồng, tăng 8,4%, chiến lược đầu tư tiếp tục ưu tiên thanh khoản và quản trị rủi ro, song dự báo sẽ có sự chuyển dịch.
Phí bảo hiểm tăng mạnh vì căng thẳng Trung Đông, doanh nghiệp cần tính lại rủi ro

Phí bảo hiểm tăng mạnh vì căng thẳng Trung Đông, doanh nghiệp cần tính lại rủi ro

Căng thẳng địa chính trị tại Trung Đông tạo hiệu ứng lan tỏa tới vận tải và bảo hiểm hàng hải toàn cầu, khi phí bảo hiểm tăng mạnh. Điều này khiến doanh nghiệp và người dân quan tâm hơn đến cách các hợp đồng bảo hiểm thương mại, du lịch khi rủi ro leo thang; đồng thời làm nổi bật vai trò của doanh nghiệp bảo hiểm trong tư vấn quản trị rủi ro và thiết kế giải pháp bảo vệ linh hoạt.
F88 đặt mục tiêu lãi hơn 1.100 tỷ đồng năm 2026, chia tách cổ phiếu mạnh để tăng vốn

F88 đặt mục tiêu lãi hơn 1.100 tỷ đồng năm 2026, chia tách cổ phiếu mạnh để tăng vốn

F88 đặt mục tiêu lợi nhuận trước thuế hợp nhất năm 2026 đạt 1.133,8 tỷ đồng, tăng 25%; dư nợ cho vay 7.501,8 tỷ đồng, tăng hơn 33%, đồng thời mở rộng mạng lưới lên 1.000 phòng giao dịch cùng đẩy mạnh chuyển đổi số. Doanh nghiệp cũng trình kế hoạch tăng vốn theo ba phương án, trong đó chào bán hơn 22 triệu cổ phiếu ra công chúng, dự kiến nâng vốn điều lệ lên hơn 2.460 tỷ đồng, tăng 123%.
Năm 2025, Bảo hiểm VietinBank - VBI tăng trưởng toàn diện các chỉ số kinh doanh

Năm 2025, Bảo hiểm VietinBank - VBI tăng trưởng toàn diện các chỉ số kinh doanh

Năm 2025, mặc dù đối mặt với áp lực bồi thường gia tăng do ảnh hưởng của nhiều cơn bão và mưa lũ lớn, Bảo hiểm VietinBank - VBI đạt hơn 5.200 tỷ đồng, tăng trưởng hơn 16% so với cùng kỳ năm 2024, lợi nhuận trước thuế cũng ghi nhận mức tăng trưởng hơn 23%.
Sửa chính sách bảo hiểm nông nghiệp nhằm mở rộng độ phủ

Sửa chính sách bảo hiểm nông nghiệp nhằm mở rộng độ phủ

Chương trình bảo hiểm nông nghiệp đã ghi nhận những kết quả bước đầu tích cực, góp phần hỗ trợ nông dân giảm thiểu rủi ro trong sản xuất, song cũng còn những điểm nghẽn cần tháo gỡ. Nghị định số 58/2018/NĐ-CP về bảo hiểm nông nghiệp được định hướng sửa đổi theo hướng mở, với mức hỗ trợ tối đa tới 95% phí bảo hiểm, nhằm mở rộng độ phủ bảo hiểm nông nghiệp.
Nhiều doanh nghiệp bảo hiểm khó đáp ứng điều kiện cơ cấu cổ đông

Nhiều doanh nghiệp bảo hiểm khó đáp ứng điều kiện cơ cấu cổ đông

Dự thảo Nghị định sửa đổi Nghị định số 46/2023/NĐ-CP đưa ra nhiều thay đổi, hướng đến cắt giảm 30% điều kiện kinh doanh và thủ tục hành chính trong lĩnh vực bảo hiểm. Tại văn bản góp ý, nhiều doanh nghiệp cho thấy đang gặp khó trong việc đáp ứng điều kiện về cơ cấu cổ đông. Theo Bộ Tài chính, quy định này đã có thời gian chuyển tiếp 3 năm và vẫn áp dụng từ ngày 01/01/2026.
MIC tinh gọn bộ máy, sắp xếp lại mạng lưới công ty thành viên

MIC tinh gọn bộ máy, sắp xếp lại mạng lưới công ty thành viên

Tổng Công ty Cổ phần Bảo hiểm Quân đội (MIC) vừa công bố thông tin về việc nhận được văn bản số 2648/BTC-QLBH ngày 6/3/2026 của Bộ Tài chính ghi nhận việc chấm dứt hoạt động của 23 công ty thành viên trực thuộc. Nội dung này cũng đã được doanh nghiệp báo cáo tới Ủy ban Chứng khoán Nhà nước và Sở Giao dịch Chứng khoán TP.HCM.
Sun Life Việt Nam tăng vốn điều lệ lên 18.909 tỷ đồng, khẳng định cam kết đầu tư lâu dài tại Việt Nam

Sun Life Việt Nam tăng vốn điều lệ lên 18.909 tỷ đồng, khẳng định cam kết đầu tư lâu dài tại Việt Nam

Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Sun Life Việt Nam vừa được Bộ Tài chính chính thức chấp thuận tăng vốn điều lệ từ 18.434 tỷ đồng lên 18.909 tỷ đồng, theo giấy phép điều chỉnh số 68/GPĐC16/KDBH. Việc liên tục tăng cường nguồn lực tài chính thể hiện cam kết đầu tư lâu dài, bền vững của Tập đoàn Sun Life, đồng thời khẳng định niềm tin mạnh mẽ vào tiềm năng tăng trưởng của thị trường Việt Nam.
Xem thêm