Người thu nhập thấp không chịu tác động của Luật Thuế tài sản

TS Vũ Đình Ánh: Nếu Luật Thuế tài sản sớm được ban hành có thể hạn chế tình trạng bong bóng bất động sản. Ảnh: T.T
PV: Thưa ông, ông có quan điểm như thế nào về việc xây dựng sắc thuế mới này trong bối cảnh hội nhập của nước ta?
TS. Vũ Đình Ánh: Tôi cho rằng việc xây dựng các sắc thuế mới nói chung và Luật Thuế tài sản nói riêng đều nằm trong lộ trình chiến lược cải cách hệ thống thuế của Việt Nam đến năm 2020, đáp ứng 2 yêu cầu lớn là hội nhập kinh tế quốc tế và phù hợp với trình độ phát triển của kinh tế - xã hội của Việt Nam trong giai đoạn mới.
PV: Thuế tài sản hiện được nhiều nước áp dụng để tăng thu nội địa, bù đắp hụt thu từ thuế xuất nhập khẩu đang bị giảm mạnh theo các cam kết của các hiệp định thương mại tự do (FTA). Tại một số kỳ họp Quốc hội gần đây, cũng đã có một số đại biểu đề cập sự cần thiết của việc ban hành Luật Thuế tài sản. Đây cũng là dự thảo luật được Bộ Tài chính chuẩn bị từ lâu. Vấn đề người dân quan tâm là mức thu như thế nào là phù hợp. Ông đánh giá như thế nào về ngưỡng chịu thuế bắt đầu từ 700 triệu đồng?
TS. Vũ Đình Ánh: Nếu muốn xem ngưỡng chịu thuế 700 triệu đồng với nhà ở gặp nhiều ý kiến khác nhau là do đâu, thì phải giải thích thêm về bản chất của thuế tài sản không phải mục tiêu chính là bù đắp thiếu hụt của thuế xuất, nhập khẩu khi thực hiện cam kết các FTA, hay sự sụt giảm nguồn thu từ dầu thô - nguồn thu rất quan trọng đối với ngân sách của chúng ta thời gian qua.
Thuế Tài sản có vai trò lịch sử ở nhiều nước trên thế giới. Hàng trăm năm nay, người ta đã áp dụng dưới nhiều mức độ khác nhau phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia.
Ở Việt Nam đã đặt ra thuế nhà ngay từ Pháp lệnh thuế nhà, đất năm 1991, đến năm 1992 sửa đổi, giữ lại chỉ đánh thuế với đất, không đánh thuế với nhà và đất với tư cách là tài sản cố định đặc biệt.
Thông thường theo định nghĩa về tài sản là của cải vật chất được sử dụng trong sản xuất và tiêu dùng. Phạm trù rất rộng nên phải xác định những loại tài sản có tính chất như thế nào thì thuộc đối tượng chịu thuế.
Chúng ta lựa chọn nhà để đánh thuế nhà ở với ngưỡng đánh thuế là 700 triệu đồng. Lập luận của cơ quan dự thảo dự án luật cho rằng tính diện tích bình quân đầu người nhân với suất đầu tư (giá thành xây dựng cho đơn vị diện tích nhà ở). Như vậy với 100 m2 trong 1 hộ gia đình thì trong ngưỡng đó không đánh thuế, trên ngưỡng đó thì chịu thuế.
Tôi cho rằng, đó cũng là căn cứ tương đối phù hợp với hiện trạng hiện nay về nhà ở vì các điều kiện sinh sống của các hộ gia đình ở Việt Nam kể cả nông thôn và đô thị. Tuy nhiên đây không phải là căn cứ duy nhất để đánh thuế. Ngưỡng đánh thuế nhà ở cần dựa thêm các tiêu chí như yếu tố về chính trị ngoài yếu tố về kinh tế, tài chính. Đặc biệt chúng ta quan tâm những yếu tố về xã hội, cũng như trình độ phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam trong thời gian hiện tại và tương lai, khi áp dụng thuế tài sản nếu Luật Thuế tài sản được thông qua.
Đây là những tính toán cần bổ sung thêm. Đặc biệt, ngưỡng đó cần phải có sự tham khảo, đánh giá nhiều chiều để có được sự đồng thuận cao nhất trong xã hội.
PV: Có nhiều ý kiến, nếu áp thuế sớm hơn thì sẽ tránh được tình trạng bong bóng bất động sản giai đoạn trước. Ông có đồng tình quan điểm này không?
TS. Vũ Đình Ánh: Phải khẳng định thuế tài sản không phải là mới, như tôi đã phân tích ở trên. Kể từ năm 1991, Pháp lệnh thuế nhà đất đến nay đã 30 năm. Để đưa ra dự thảo luật này, Bộ Tài chính và các đơn vị chức năng được giao nhiệm vụ soạn thảo đã có quá trình chuẩn bị lâu dài, đã tham khảo kinh nghiệm quốc tế cũng như các lập luận, căn cứ.
Về giả định đã có thuế tài sản đất và nhà thì có thể ngăn chặn bong bóng bất động sản, cách đây hơn 10 năm tôi đã có phát biểu khi bàn về phát triển thị trường bất động sản ở Việt Nam. Tôi khẳng định rằng, nếu như sớm có Luật Thuế tài sản thì có thể góp phần tránh tình trạng bong bóng bất động sản. Nhưng nó không phải là công cụ duy nhất.
PV: Theo ban soạn thảo, mức khởi điểm tính thuế là 700 triệu đồng đã loại bỏ hầu như các gia đình ở nông thôn. Nhưng thực tế ở những thành phố thì khu nhà xã hội của người có thu nhập thấp cũng có giá cao hơn nhiều ngưỡng tính thuế 700 triệu đồng. Theo ban soạn thảo thì sẽ tính giá theo đơn giá ban hành của địa phương nên sẽ thấp hơn giá thị trường. Vậy theo ông cách tính này có phù hợp hay không?
TS. Vũ Đình Ánh: Điều này xuất phát từ cách hiểu tương đối khác nhau của ban soạn thảo và những phản hồi, liên quan đến nội dung ngưỡng giá trị nhà. Sự khác nhau ở đây là theo cách tính của dự thảo luật, đó không phải là giá mua, giá bán của căn hộ cụ thể, kể cả nhà thu nhập thấp, nhà ở xã hội, mà ở đây tính diện tích căn hộ đó nhân với suất đầu tư (do Bộ Xây dựng công bố) khoảng từ 7 - 10 triệu tùy theo từng phân loại nhà khác nhau.
Lo ngại nhà ở xã hội và nhà ở thu nhập thấp cũng phải đánh thuế thì không phải. Ban soạn thảo đã lường đến trường hợp đó, và mức 700 triệu đồng là ngưỡng để đảm bảo cho người thu nhập thấp, nhà ở xã hội, người khó khăn có thể tiếp cận nhà ở và họ không phải là đối tượng chịu tác động của luật.
PV: Thuế tài sản thì cũng đã được nhắc đến trước đây và dự thảo lần này được cho là xây dựng theo thông lệ quốc tế. Tuy nhiên trước đây, có bàn tính đến việc thu thuế tài sản từ căn nhà, biệt thự thứ hai, thứ ba trở lên để điều tiết thu nhập, giảm đầu cơ bất động sản. Đây cũng là cách tiếp cận mà nhiều nước đã áp dụng. Vậy ông có đánh giá như thế nào về sự chuyển đổi về cách tính thuế lần này?
TS. Vũ Đình Ánh: Đúng là trước đây chúng ta đã không ít lần bàn thảo về xác định căn nhà thứ hai, thứ ba. Nhưng ở đây, mục tiêu chính của Luật Thuế tài sản không phải là hạn chế đầu cơ bất động sản, mà mục tiêu chính căn cứ vào chức năng của thuế, đó là tạo ra nguồn thu cho ngân sách nhà nước, phân phối lại thu nhập và điều tiết nền kinh tế. Như vậy, việc giả định chống đầu cơ hay chống bong bóng bất động sản cũng chỉ là một nội dung nhỏ trong chức năng điều tiết nền kinh tế của luật thuế.
Về quan điểm bản chất thuế, nên đánh thuế với bất cứ tài sản nào không phân định nó là tài sản thứ nhất, hay thứ hai. Vấn đề tiếp theo liên quan đến kỹ thuật. Khi nói về nhà thứ nhất, thứ hai sẽ liên quan đến nhiều vấn đề khác nhau, đến nguyên tắc rất quan trọng của thuế đó là đơn giản, công bằng, hiệu quả.
Do đó, lựa chọn cách tính thuế theo giá trị là phù hợp với bản chất của thuế tài sản, đáp ứng chức năng của thuế tài sản và nguyên tắc cơ bản của một sắc thuế.
PV: Sau đối tượng thu và mức thu thì thời điểm thu thuế và lộ trình thu sắc thuế mới này cũng là vấn đề cần được chú ý. Ông có nhìn nhận như thế nào về nội dung này?
TS. Vũ Đình Ánh: Mức thu và lộ trình chúng ta thực hiện sẽ phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Rất tiếc khi chúng ta công bố dự thảo cần có thêm một số thông tin. Tôi nói ví dụ, chúng ta ước lượng thu khoảng từ hơn 20.000 đến hơn 30.000 tỷ đồng, đó chỉ là một phần trong tính toán đưa ra ngưỡng chịu thuế, mức thuế và sẽ thu như thế nào, chưa kể các trường hợp miễn giảm, gắn với lộ trình thực hiện. Hoặc khi xây dựng luật thuế, cơ quan chức năng cần có thông tin như ở nước ta hiện nay có bao nhiêu nhà, giá trị các căn nhà đó như thế nào...
Do đó, có rất nhiều thông tin chúng ta cần đánh giá tác động của Luật Thuế tài sản đối với kinh tế - xã hội, chứ không phải chỉ tính toán phần tăng thu, chưa kể phần tăng thu đó cũng chỉ là ước tính. Tôi cho rằng, kể cả những người phản biện lại cũng thiếu thông tin cần thiết.
PV: Xin cảm ơn ông!
Minh Anh (ghi)
Dành cho bạn
Đọc thêm
Cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng kinh phí quản lý hành chính
Kho bạc Nhà nước triển khai đồng bộ Nghị quyết Đại hội XIV trong toàn hệ thống
Bộ Tài chính nêu tên nhiều đơn vị chậm kiểm kê tài sản công
Dự trữ quốc gia cần hướng tới nguồn lực chiến lược bảo đảm an ninh kinh tế
TP. Hồ Chí Minh dùng công cụ tài chính để hướng dòng kiều hối đầu tư vào khoa học công nghệ
Bộ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Văn Thắng tiếp Tổng Giám đốc Ngân hàng ICBC Lưu Tuấn


