Nhà đầu tư ngoại phát tín hiệu củng cố niềm tin dài hạn tại Việt Nam

Theo ông Nguyễn Văn Toàn - Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp đầu tư nước ngoài (VAFIE), kết quả thu hút FDI 7 tháng năm 2025 cho thấy, nhà đầu tư nước ngoài không chỉ tiếp tục chọn Việt Nam làm điểm đến mới, mà còn mở rộng dự án hiện hữu, một tín hiệu củng cố niềm tin dài hạn.
aa

PV: Nhìn vào bức tranh FDI, ông đánh giá thế nào về thu hút FDI của Việt Nam trong 7 tháng qua, trong bối cảnh thế giới đầy biến động?

Ông Nguyễn Văn Toàn: Theo số liệu được Cục Thống kê (Bộ Tài chính) mới công bố, tổng vốn FDI đăng ký vào Việt Nam tính đến ngày 31/7/2025 bao gồm: Vốn đăng ký cấp mới, vốn đăng ký điều chỉnh và giá trị góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài đạt 24,09 tỷ USD, tăng 27,3% so với cùng kỳ năm trước. Đây là kết quả rất tích cực trong bối cảnh thế giới từ đầu năm 2025 có nhiều biến động như hiện nay, nhất là lo ngại từ biến động thuế quan.

Vốn đăng ký điều chỉnh tăng gần 10 tỷ USD

Tính từ đầu năm đến hết ngày 31/7, có 920 lượt dự án đã cấp phép từ các năm trước đăng ký điều chỉnh vốn đầu tư, tăng thêm 9,99 tỷ USD, tăng 95,3% so với cùng kỳ năm trước.

Vốn FDI thực hiện tại Việt Nam 7 tháng năm 2025 ước đạt 13,6 tỷ USD, tăng 8,4% so với cùng kỳ năm trước. Đây là số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện cao nhất trong 5 năm qua. Trong đó, công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 11,1 tỷ USD, chiếm 81,6% tổng vốn FDI thực hiện; hoạt động kinh doanh bất động sản đạt 1,09 tỷ USD, chiếm 8%; sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí đạt 505,2 triệu USD, chiếm 3,7%.

Nhà đầu tư ngoại phát tín hiệu củng cố niềm tin dài hạn tại Việt Nam
Nguồn: Cục Thống kê. Đồ họa: Phương Anh

Số dự án mới, lượt dự án điều chỉnh tăng mạnh so với năm trước, cho thấy nhà đầu tư không chỉ tiếp tục chọn Việt Nam làm điểm đến mới, mà còn mở rộng dự án hiện hữu, một tín hiệu củng cố niềm tin dài hạn. Vốn FDI thực hiện 7 tháng tăng 8,4% so với cùng kỳ, chứng tỏ các cam kết đầu tư đang được hiện thực hóa đều đặn. Đặc biệt, lĩnh vực công nghiệp chế biến chế tạo chiếm tới 81,6% tổng vốn FDI, khẳng định vai trò của Việt Nam như điểm nút chiến lược trong chuỗi cung ứng khu vực. Đây là lợi thế quan trọng giúp Việt Nam thu hút dòng vốn dịch chuyển khỏi các thị trường truyền thống trong bối cảnh doanh nghiệp toàn cầu đa dạng hóa sản xuất.

PV: Về niềm tin của nhà đầu tư ngoại, theo ông, quá trình sắp xếp, tinh gọn tổ chức, bộ máy tác động thế nào tới tâm lý của các nhà đầu tư?

Ông Nguyễn Văn Toàn: Kết quả thu hút FDI 7 tháng năm 2025 cho thấy, những thay đổi cơ cấu rất lớn của quá trình sáp nhập, tinh gọn tổ chức, bộ máy không những không ảnh hưởng đến nhà đầu tư nước ngoài, mà có xu hướng tích cực hơn. Tôi cảm nhận nhà đầu tư có niềm tin hơn vào thị trường Việt Nam nên họ không dừng lại, mà tiếp tục đầu tư.

Điều này cho thấy, “bộ tứ trụ cột” Nghị quyết của Đảng (Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; Nghị quyết 59-NQ/TW về hội nhập quốc tế trong tình hình mới; Nghị quyết số 66-NQ/TW về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới; Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân) đã bước đầu phát huy tác động tích cực đối với khối doanh nghiệp FDI, tạo niềm tin thu hút và giữ chân các nhà đầu tư ngoại.

Nhà đầu tư ngoại phát tín hiệu củng cố niềm tin dài hạn tại Việt Nam
Ông Nguyễn Văn Toàn - Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp đầu tư nước ngoài (VAFIE)

Đồng thời, nếu được triển khai bài bản, công cuộc sắp xếp, tinh gọn tổ chức, bộ máy, đặc biệt là mô hình chính quyền địa phương 2 cấp sẽ không chỉ cải thiện môi trường đầu tư, mà còn góp phần định vị lại bản đồ FDI của Việt Nam, hướng tới thu hút dòng vốn chất lượng cao, công nghệ tiên tiến và thân thiện môi trường.

Tuy nhiên, để duy trì niềm tin này, Việt Nam cần tiếp tục cải thiện minh bạch, giảm thiểu rủi ro pháp lý và tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các giao dịch đầu tư. Bên cạnh đó, việc phát triển cơ sở hạ tầng và nâng cao chất lượng nhân lực cũng là yếu tố quan trọng.

PV: Việc sáp nhập tỉnh, thành phố mang lại cơ hội tái định hình vị thế của các địa phương trong thu hút FDI như thế nào, thưa ông?

Ông Nguyễn Văn Toàn: Tôi cho rằng, sau khi sáp nhập thì lợi thế trong thu hút FDI của các tỉnh được “san đều” hơn, giúp thu hút FDI thuận lợi hơn rất nhiều.

Việc sáp nhập địa giới hành chính đã tạo ra các trung tâm công nghiệp lớn hơn, như TP. Hồ Chí Minh mới (gồm TP. Hồ Chí Minh, Bình Dương, Bà Rịa - Vũng Tàu), Bắc Ninh (Bắc Ninh - Bắc Giang), Đồng Nai (Đồng Nai - Bình Phước)…, giúp nâng cao năng lực cạnh tranh thu hút FDI. Điều này sẽ góp phần định hình lại vị thế của các địa phương trong bản đồ thu hút FDI thời gian tới.

PV: Như ông nói, cơ hội mở ra cho các địa phương là rất lớn. Vậy, các địa phương cần “chuyển mình” như thế nào để thu hút và giữ chân được các nhà đầu tư FDI, nhất là các FDI có chất lượng cao?

Ông Nguyễn Văn Toàn: Chủ động chính là câu trả lời. Như đã nói ở trên, cơ hội dành cho các tỉnh, thành phố sau sáp nhập gần như là san đều nhau do các tỉnh đều hội tụ rất nhiều yếu tố thuận lợi của nhiều tỉnh trước đây cộng lại.

Các tỉnh cần phải chủ động để phát huy được các lợi thế và quy hoạch lại chiến lược thu hút FDI. Đồng thời, cải cách thể chế và nâng cao năng lực quản lý địa phương là yếu tố then chốt. Việc triển khai mô hình chính quyền địa phương 2 cấp từ tháng 7/2025 là cơ hội để phân cấp rõ ràng, giảm thủ tục hành chính và tăng tính minh bạch.

Các địa phương cần chủ động xây dựng chiến lược thu hút FDI riêng, gắn với quy hoạch phát triển vùng và ngành. Đồng thời, chính quyền trung ương cần có chính sách chiến lược tổng thể, trong đó tổng hợp lợi thế riêng biệt của từng địa phương, hạn chế sự cạnh tranh mà thay vào đó có thể bổ sung, hỗ trợ cho nhau.

Tôi tin rằng, bằng cách củng cố nội lực, cải cách thể chế và nâng cao chất lượng dịch vụ đầu tư, Việt Nam có thể duy trì và nâng cao vị thế của mình là một điểm đến đầu tư hấp dẫn, ngay cả trong bối cảnh thế giới còn nhiều bất ổn, và tiếp tục thu hút các dòng vốn FDI chất lượng cao, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế bền vững.

PV: Xin cảm ơn ông!

Singapore vẫn là nhà đầu tư FDI lớn nhất tại Việt Nam

Theo Bộ Tài chính, trong số 74 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư được cấp phép mới tại Việt Nam trong 7 tháng năm 2025, Singapore là nhà đầu tư lớn nhất với 2,84 tỷ USD, chiếm 28,3% tổng vốn đăng ký cấp mới. Các vị trí tiếp theo là Trung Quốc 2,27 tỷ USD, chiếm 22,6%; Thụy Điển 1 tỷ USD, chiếm 10%; Nhật Bản 865,8 triệu USD, chiếm 8,6%; Đài Loan 735 triệu USD, chiếm 7,3%; Hồng Kông (Trung Quốc) 721,2 triệu USD, chiếm 7,2%; Quần đảo Virgin thuộc Anh 317,1 triệu USD, chiếm 3,2%.

Cũng trong 7 tháng năm 2025, có 33 quốc gia và vùng lãnh thổ nhận đầu tư của Việt Nam. Trong đó, Lào là nước dẫn đầu với 150,3 triệu USD, chiếm 28,4% tổng vốn đầu tư; Philippines: 61,8 triệu USD, chiếm 11,7%; Indonesia: 60,5 triệu USD, chiếm 11,4%; Đức: 50,6 triệu USD, chiếm 9,6%; Hoa Kỳ: 31,2 triệu USD, chiếm 5,9%.

Thảo Miên

Đọc thêm

Chính sách thuế mới tạo đà cho hộ kinh doanh phát triển bền vững

Chính sách thuế mới tạo đà cho hộ kinh doanh phát triển bền vững

TS. Phan Phương Nam - Phó Trưởng khoa Luật Thương mại (Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh) nhấn mạnh, công tác tuyên truyền, hỗ trợ cần được chú trọng, để chính sách thuế đối với hộ kinh doanh phát huy tối đa hiệu quả quản lý nhà nước, đồng thời tạo đà phát triển bền vững cho khu vực kinh tế cá thể.
Giảm thuế nhập khẩu xăng dầu về 0%: Hỗ trợ kịp thời, nhưng cần thêm “bộ đệm” chính sách

Giảm thuế nhập khẩu xăng dầu về 0%: Hỗ trợ kịp thời, nhưng cần thêm “bộ đệm” chính sách

Theo PGS.TS Ngô Trí Long (Hiệp hội Tư vấn tài chính Việt Nam), việc giảm thuế nhập khẩu xăng dầu về 0% đến hết tháng 4/2026 là một giải pháp tài khóa đúng lúc, hợp lý và có tác dụng giảm áp lực, nhưng để ổn định thị trường một cách bền vững, thì vẫn phải đi cùng các công cụ khác, chứ không thể dựa riêng vào giảm thuế.
Chính sách tài khóa tiếp tục tạo động lực cho tăng trưởng bền vững

Chính sách tài khóa tiếp tục tạo động lực cho tăng trưởng bền vững

ThS. Lê Thị Mai Liên - Trưởng ban Kinh tế vĩ mô và dự báo, Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính (Bộ Tài chính) cho rằng, cần phối hợp đồng bộ các động lực, để nền kinh tế có thêm dư địa thúc đẩy tăng trưởng nhanh và bền vững trong thời gian tới.
Tăng “sức đề kháng” chuỗi cung ứng trước biến động địa chính trị Trung Đông

Tăng “sức đề kháng” chuỗi cung ứng trước biến động địa chính trị Trung Đông

Trả lời phóng viên, TS. Nguyễn Sơn - Giảng viên ngành quản lý chuỗi cung ứng và logistics, Đại học RMIT Việt Nam cho rằng, rủi ro địa chính trị tại Trung Đông đang tác động tới thương mại và vận tải quốc tế. Việc tăng “sức đề kháng” chuỗi cung ứng sẽ là yếu tố then chốt giúp doanh nghiệp Việt Nam duy trì lợi thế cạnh tranh trong bối cảnh bất ổn toàn cầu.
Chứng khoán Việt có điểm tựa từ nền tảng vĩ mô và triển vọng nâng hạng

Chứng khoán Việt có điểm tựa từ nền tảng vĩ mô và triển vọng nâng hạng

Theo ông Đinh Quang Hinh - Trưởng bộ phận Vĩ mô và Chiến lược Thị trường, Công ty Chứng khoán VNDIRECT, căng thẳng tại Trung Đông và đà tăng mạnh của giá dầu đã tác động tới tâm lý nhà đầu tư trên thị trường tài chính. Tuy vậy, nền tảng kinh tế ổn định, dư địa chính sách và triển vọng nâng hạng vẫn được kỳ vọng giúp chứng khoán Việt Nam duy trì sự cân bằng trước các biến động bên ngoài.
Biến động Trung Đông và bài toán ứng phó của doanh nghiệp logistics

Biến động Trung Đông và bài toán ứng phó của doanh nghiệp logistics

Ông Phạm Quang Long - Giám đốc kinh doanh và phát triển thị trường, Công ty Allied Movers tại Việt Nam cho rằng, xung đột tại Trung Đông tác động tới vận tải biển và hàng không quốc tế, làm gia tăng chi phí và rủi ro logistics. Theo đó, Việt Nam cần củng cố hạ tầng và năng lực logistics để tận dụng cơ hội trong cấu trúc thương mại mới. Về phía doanh nghiệp, cần chủ động thích ứng và có chiến lược kinh doanh phù hợp.
Chủ động xây dựng kịch bản ứng phó với tác động từ xung đột tại Trung Đông

Chủ động xây dựng kịch bản ứng phó với tác động từ xung đột tại Trung Đông

Theo TS. Nguyễn Sơn - giảng viên ngành quản lý chuỗi cung ứng và logistics, Đại học RMIT Việt Nam, để giảm thiểu tác động từ xung đột tại Trung Đông, doanh nghiệp Việt cần chủ động rà soát hợp đồng quốc tế, đa dạng hóa nguồn cung nguyên liệu, điều chỉnh chiến lược logistics và xây dựng kịch bản ứng phó nếu xung đột kéo dài.
Dự báo diễn biến giá vàng khi xung đột Trung Đông “dậy sóng”

Dự báo diễn biến giá vàng khi xung đột Trung Đông “dậy sóng”

Xung đột tại Trung Đông đang khiến thị trường tài chính toàn cầu biến động mạnh, trong đó, vàng tiếp tục là tâm điểm chú ý của nhà đầu tư. TS. Lê Bá Chí Nhân - chuyên gia kinh tế cao cấp cho rằng, biến động quốc tế ngày càng lớn, nếu thiếu cơ chế giao dịch minh bạch, rủi ro đầu cơ và chênh lệch giá vàng sẽ lặp lại. Vì vậy, cần sớm hình thành sàn giao dịch vàng quốc gia và mở rộng nguồn cung theo lộ trình có kiểm soát.
Xem thêm