Quản lý chặt chẽ bảo lãnh, chuyển đổi cơ cấu cho vay lại

Phần lớn nguồn vốn ODA được sử dụng để đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng.
Quản lý chặt chẽ bảo lãnh chính phủ
Theo báo cáo từ Cục Quản lý nợ và tài chính đối ngoại (Bộ Tài chính), trong năm 2019, công tác cấp và quản lý bảo lãnh chính phủ tiếp tục bám sát chủ trương quản lý chặt chẽ tại Nghị quyết số 07-NQ/TW của Bộ Chính trị và Nghị quyết số 25/2016/QH14 của Quốc hội.
Chỉ tiêu dư nợ được Chính phủ bảo lãnh so với GDP tiếp tục xu hướng giảm, góp phần kiềm chế tốc độ gia tăng quy mô nợ công (tính đến cuối năm 2019, dư nợ bảo lãnh chính phủ khoảng 6,7% GDP).
Công tác kiểm tra, giám sát việc sử dụng vốn vay và trả nợ chính phủ bảo lãnh được tăng cường, bao gồm tổ chức các đoàn giám sát và giám sát thông qua các ngân hàng phục vụ; thực hiện phân loại nợ chính phủ bảo lãnh và có giải pháp đối với từng nhóm nợ để xử lý; đôn đốc việc thế chấp tài sản bảo đảm cho các khoản vay theo quy định.
Cơ quan cấp bảo lãnh chính phủ (Bộ Tài chính) tiếp tục trao đổi, thúc đẩy các doanh nghiệp có dư nợ chính phủ bảo lãnh lớn thực hiện tái cơ cấu nợ chủ động bằng việc trả nợ trước hạn đối với các khoản vay trong và ngoài nước được Chính phủ bảo lãnh; đồng thời đề nghị các doanh nghiệp chủ động tiếp cận nguồn vốn vay của các ngân hàng thương mại trong nước mà không cần phải có bảo lãnh chính phủ.
Qua thống kê cho thấy, trong năm 2019, Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH) phát hành hơn 3.701 tỷ đồng trái phiếu chính phủ bảo lãnh, bằng 100% hạn mức được duyệt; kỳ hạn phát hành bình quân đạt 14,57 năm; lãi suất phát hành bình quân là 4,67%/năm.
Theo đánh giá của Bộ Tài chính, việc phát hành trái phiếu chính phủ bảo lãnh của NHCSXH đã góp phần giúp ngân hàng đảm bảo nguồn vốn thực hiện chính sách an sinh xã hội do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao. Ngoài ra, việc phát hành trái phiếu với kỳ hạn bình quân danh mục tại thời điểm 31/12/2019 là 9,2 năm cũng đã góp phần đáng kể trong việc làm giảm rủi ro về kỳ hạn giữa nguồn vốn huy động và cho vay của NHCSXH. Nguồn vốn phát hành trái phiếu chính phủ bảo lãnh của NHCSXH được hòa đồng chung trong tổng nguồn vốn của ngân hàng để thực hiện các chính sách tín dụng ưu đãi của Nhà nước.
Được biết, trong năm 2019, Ngân hàng Phát triển Việt Nam phát hành 13.797 tỷ đồng, bằng 100% hạn mức được duyệt; kỳ hạn phát hành đạt 11,47 năm; lãi suất phát hành bình quân là 4,35%/năm.
Về bảo lãnh vay trong nước của Chính phủ cho các dự án, ước thực hiện đến cuối năm 2019, tổng giải ngân trong năm là 165 tỷ đồng, trả nợ gốc là 8.143 tỷ đồng và trả nợ lãi là 3.188 tỷ đồng, theo đó trả nợ ròng là 7.978 tỷ đồng. Như vậy, trong năm 2019 tổng nghĩa vụ trả nợ lớn hơn tổng số rút vốn nên không sử dụng đến hạn mức bảo lãnh vay trong nước của các dự án.
Về bảo lãnh vay nước ngoài của Chính phủ cho các dự án, ước thực hiện năm 2019, tổng rút vốn là 15.997 tỷ đồng, trả nợ gốc là 36.910 tỷ đồng và trả nợ lãi 10.824 tỷ đồng, theo đó trả nợ ròng là 20.913 tỷ đồng, không phải sử dụng đến hạn mức bảo lãnh được Chính phủ phê duyệt.
Tăng dần tỷ trọng cho vay lại chính quyền địa phương
Theo đánh giá của Bộ Tài chính, trong năm 2019, việc quản lý cho vay lại vốn vay nước ngoài của Chính phủ tiếp tục được đẩy mạnh. Cơ cấu cho vay lại chuyển đổi theo hướng tăng dần tỷ trọng cho vay lại chính quyền địa phương, tăng cường cho vay lại đối với các đơn vị sự nghiệp công lập, giảm dần vốn cho vay lại để thực hiện các dự án đầu tư của doanh nghiệp và cho vay lại theo hạn mức tín dụng.
Cơ chế chính sách cho vay lại vốn vay nước ngoài của Chính phủ được đổi mới nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
Cụ thể, việc cho vay lại vốn vay ODA, vay ưu đãi nước ngoài được thực hiện theo hướng gắn với hạn mức vay áp dụng cho thời kỳ ổn định ngân sách (5 năm) và theo hạn mức hàng năm; đồng thời được xây dựng căn cứ nhu cầu vay mới, đánh giá tình hình thực hiện năm trước và khả năng bố trí nguồn trả nợ của từng đối tượng nhận vay lại, góp phần cải thiện hiệu quả sử dụng nguồn vốn vay.
Bên cạnh đó, Chính phủ đã thu hẹp phạm vi nguồn vốn nước ngoài vay về cho vay lại; theo đó không thực hiện vay thương mại nước ngoài về cho vay lại, chỉ sử dụng một phần nguồn vốn vay ODA, vay ưu đãi từ các nhà tài trợ để cho vay lại; tập trung vào một số lĩnh vực có khả năng thu hồi vốn cao chủ yếu như giao thông, điện...
Đối với cho vay lại UBND cấp tỉnh để thực hiện các dự án đầu tư của chính quyền địa phương, trên cơ sở quy định của Luật Ngân sách nhà nước (NSNN), Luật Quản lý nợ công, Bộ Tài chính đã công bố tỷ lệ vay lại của từng địa phương để làm căn cứ cho các địa phương chủ động tính toán, xây dựng kế hoạch vay, trả nợ, đảm bảo các hạn mức vay và khả năng trả nợ.
Cũng để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, Chính phủ, Bộ Tài chính thực hiện một số biện pháp như: siết chặt điều kiện áp dụng đối với các đối tượng vay lại nguồn vay ODA, vay ưu đãi nước ngoài; hay tăng cường chia sẻ rủi ro giữa NSNN và cơ quan cho vay lại, áp dụng cơ chế cơ quan cho vay lại chịu rủi ro toàn bộ; tăng cường công tác thẩm định, áp dụng mức phí dự phòng rủi ro cho vay lại; phân loại nợ, quản lý và xử lý rủi ro.
Tăng cường quy định về tài sản bảo đảm khoản vay; quản lý dòng tiền của dự án vay lại; cơ chế báo cáo, cung cấp thông tin của dự án vay lại. Việc cho vay lại vốn vay nước ngoài của Chính phủ ngày càng được tăng cường theo hướng nâng cao trách nhiệm của các địa phương, chủ dự án.
| Bộ Tài chính đề xuất, mức bảo lãnh phát hành tối đa đối với Ngân hàng Phát triển Việt Nam và Ngân hàng Chính sách Xã hội năm 2020 bằng mức trả nợ gốc đến hạn trong năm, dự kiến mức bảo lãnh phát hành trái phiếu của hai ngân hàng này năm 2020 là 31.437 tỷ đồng. Đối với bảo lãnh cho doanh nghiệp vay trong nước và ngoài nước, số rút vốn trong năm 2020 không vượt quá số trả nợ gốc trong năm. Bộ Tài chính cũng đề xuất, tổng hạn mức vay về cho vay lại vốn vay ODA, vay ưu đãi nước ngoài của Chính phủ năm 2020 là 43.415 tỷ đồng. |
Đức Minh
Dành cho bạn
Đọc thêm
Cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng kinh phí quản lý hành chính
Kho bạc Nhà nước triển khai đồng bộ Nghị quyết Đại hội XIV trong toàn hệ thống
Bộ Tài chính nêu tên nhiều đơn vị chậm kiểm kê tài sản công
Dự trữ quốc gia cần hướng tới nguồn lực chiến lược bảo đảm an ninh kinh tế
TP. Hồ Chí Minh dùng công cụ tài chính để hướng dòng kiều hối đầu tư vào khoa học công nghệ
Bộ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Văn Thắng tiếp Tổng Giám đốc Ngân hàng ICBC Lưu Tuấn


