Quản lý nhà nước về doanh nghiệp: Cần khai thác tối đa ưu điểm của cơ chế giám sát chéo

Chí Tín
Trả lời phỏng vấn của phóng viên TBTCVN, TS. Nguyễn Đình Cung - nguyên Viện trưởng Viện nghiên cứu Quản lý kinh tế trung ương cho biết, để phát triển đội ngũ doanh nghiệp đông và mạnh cần phải quan tâm cải cách môi trường kinh doanh. Trong đó, việc quản lý nhà nước cũng phải có cái nhìn mới, đặc biệt tận dụng tối đa cơ chế giám sát chéo trong nền kinh tế thị trường.
aa

PV: Mục tiêu đạt 1,5 triệu doanh nghiệp đến năm 2025 có vẻ đang là nhiệm vụ khá khó khăn, ông có nghĩ như vậy không?

Quản lý nhà nước về doanh nghiệp: Cần khai thác tối đa ưu điểm của cơ chế giám sát chéo
TS. Nguyễn Đình Cung

TS. Nguyễn Đình Cung: Mục tiêu đặt ra là rất tốt, rất phù hợp vì nền kinh tế nếu có càng nhiều doanh nghiệp sẽ càng có nhiều động lực phát triển, đóng góp tốt cho tăng trưởng. Tuy nhiên, chúng ta cần có giải pháp hợp lý vì nếu không rất có thể đặt ra mục tiêu nhưng không đạt được. Trước đó, thời kỳ năm 2016, chúng ta đã đặt mục tiêu 1 triệu doanh nghiệp vào năm 2020 nhưng đã không đạt mục tiêu.

PV: Đất nước vừa phải trải qua 2 năm Covid-19 nên đó có thể là yếu tố khách quan làm việc phát triển số lượng doanh nghiệp bị chậm lại không, thưa ông?

TS. Nguyễn Đình Cung: 2 năm Covid-19 có thể cũng là một yếu tố và ảnh hưởng của nó như thế nào sẽ cần có sự đánh giá cụ thể mới đo lường chính xác được. Tuy nhiên, tôi cho rằng cũng vẫn có những vấn đề khác ngoài nguyên nhân đó mà chúng ta cần phải khắc phục thì mới đạt được những mục tiêu kỳ vọng.

PV: Vậy theo ông, giải pháp cần đặt ra là gì để thúc đẩy sự phát triển của cộng đồng doanh nghiệp?

TS. Nguyễn Đình Cung: Đây là một vấn đề lớn và chúng ta cần phải xây dựng một đề án chi tiết, trên cơ sở tư duy tiếp cận vấn đề cần phải rõ ràng; cần phải có sự vào cuộc của các cấp từ trung ương cho đến từng ngành, từng địa phương.

Trong đó, tôi cho rằng, việc phát triển doanh nghiệp không chỉ là tăng thêm các doanh nghiệp mới thành lập mà còn nên quan tâm tạo môi trường tốt cho các doanh nghiệp đã thành lập ở lại với thị trường. Bởi lẽ, doanh nghiệp mới nếu thành lập nhiều, nhưng doanh nghiệp cũ rút khỏi thị trường cũng nhiều thì số lượng doanh nghiệp tăng thêm không thể nhanh được.

Nguồn: Viện nghiên cứu Quản lý kinh tế trung ương Đồ họa: Văn Chung
Nguồn: Viện nghiên cứu Quản lý kinh tế trung ương. Đồ họa: Văn Chung

PV: Tuy nhiên, cũng có quan điểm cho rằng, ngoài số lượng doanh nghiệp thì nên quan tâm đến chất lượng doanh nghiệp và thậm chí chất lượng có thể còn quan trọng hơn số lượng?

TS. Nguyễn Đình Cung: Trước mắt thì cứ lo về số lượng đã và như tôi nói ở trên, việc lo về số lượng cần quan tâm đến việc doanh nghiệp họ ở lại thị trường nữa chứ không chỉ quan tâm đến việc thành lập mới.

Theo đó, doanh nghiệp nếu họ ở lại thị trường được càng lâu thì đó chính là chất lượng tốt và chính bản thân từng doanh nghiệp hơn ai khác sẽ là người phải quan tâm đến chất lượng của họ. Vai trò của Nhà nước trước hết là cần tạo ra một môi trường kinh doanh tốt cho họ, một cơ chế tốt để họ tồn tại và phát triển lành mạnh.

Tình hình đăng ký doanh nghiệp 8 tháng

Riêng trong tháng 8/2022, cả nước có 11,9 nghìn doanh nghiệp thành lập mới, giảm 4,5% so với tháng trước; tăng 106,9% so với cùng kỳ năm trước. Cả nước có gần 6,5 nghìn doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 67,1% so với cùng kỳ năm 2021.

Tính chung 8 tháng năm 2022, cả nước có 149,5 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới và quay trở lại hoạt động, tăng 31,1% so với cùng kỳ năm trước; bình quân một tháng có 18,7 nghìn doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động. Số doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường là 104,3 nghìn doanh nghiệp, tăng 22%; bình quân một tháng có 13 nghìn doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường.

PV: Có thể không phải phổ biến, nhưng vẫn có người dân tâm lý ngại kinh doanh, không muốn mở doanh nghiệp do ngại các thủ tục hành chính và ngại “va chạm” với đại diện các cơ quan công quyền. Điều này nên nhìn nhận như thế nào?

TS. Nguyễn Đình Cung: Có nhiều vấn đề xuất phát từ văn hóa, nhận thức và cần phải có sự thay đổi trong tư duy cả từ bộ máy nhà nước lẫn trong tư duy nhận thức của người dân. Trong quản lý nhà nước, vẫn còn có nhiều thủ tục hành chính rườm rà nên cần phải tiếp tục loại bỏ bớt.

PV: Vậy nếu bỏ các thủ tục đi thì việc quản lý doanh nghiệp sẽ phải làm như thế nào?

TS. Nguyễn Đình Cung: Chúng ta cũng nên cởi bỏ tư duy rằng, việc gì Nhà nước cũng phải quản lý. Trong cơ chế thị trường, một doanh nghiệp họ không phải hoạt động đơn độc mà hoạt động trong một mạng lưới các mối quan hệ: khách hàng, đối tác, cổ đông, nhà đầu tư, người lao động… Tất cả những mối quan hệ đó đều có ràng buộc và chịu cơ chế giám sát chéo lẫn nhau.

Theo đó, chúng ta khi vẫn tồn tại tư duy việc gì Nhà nước cũng quản lý, thì đổ lỗi cho Nhà nước. Cổ đông, nhà đầu tư khi đầu tư vào cổ phiếu, trái phiếu của các doanh nghiệp khi có lãi thì không kêu ca. Họ chỉ kêu khi có vấn đề hoặc rủi ro xảy ra. Mặc dù trên thực chất, cổ đông sẽ chính là đối tượng có quyền hạn và trách nhiệm giám sát các doanh nghiệp mà họ đầu tư.

Nói như vậy không nghĩa là Nhà nước bỏ mặc không làm gì, mà vai trò Nhà nước vẫn tồn tại, nhưng theo phương thức khác, đó là tận dụng tối đa cơ chế giám sát chéo trong nội tại các mối quan hệ của nền kinh tế. Thông thường trong các quan hệ dân sự, Nhà nước thường chỉ tham gia khi có tranh chấp xảy ra mà các bên không tự giải quyết được, chứ Nhà nước không thể đủ nguồn lực để giám sát hết mọi việc (theo cách tư duy cũ).

PV: Hiện nay, nhiều hộ kinh doanh vẫn có xu hướng tồn tại mãi theo hình thức hộ kinh doanh. Việc hướng cho hộ kinh doanh nâng cấp thành doanh nghiệp liệu có phải là một giải pháp giúp phần nào tăng số lượng doanh nghiệp hay không?

TS. Nguyễn Đình Cung: Người dân họ có quyền tự chủ hình thức kinh doanh phù hợp theo nguyện vọng của họ chứ cũng không thể thúc ép họ phải chuyển đổi. Vừa qua, một số chính sách cũng đưa ra điều kiện phải có đăng ký kinh doanh mới được hưởng chính sách thì đó cũng chỉ là vấn đề thủ tục, cá nhân hộ gia đình có thể vẫn đăng ký kinh doanh theo hình thức hộ kinh doanh và thủ tục này cũng rất đơn giản dễ dàng.

PV: Xin cảm ơn ông!

Thúc đẩy xây dựng đạo đức, văn hóa doanh nhân, doanh nghiệp Việt Nam trong thời kỳ mới

Văn kiện Đại hội Đảng XIII đã khẳng định: "Phát triển đội ngũ doanh nhân lớn mạnh về số lượng và chất lượng, có tinh thần cống hiến cho dân tộc, có chuẩn mực văn hóa, đạo đức tiến bộ và trình độ quản trị, kinh doanh giỏi."

Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021-2030 đã đề ra nhiệm vụ phải phát triển mạnh khu vực kinh tế tư nhân của người Việt Nam cả về số lượng, chất lượng; khuyến khích hình thành, phát triển những tập đoàn kinh tế tư nhân lớn, tiềm lực mạnh, có khả năng cạnh tranh khu vực, quốc tế; phấn đấu đến năm 2030, có ít nhất 2 triệu doanh nghiệp với tỷ trọng đóng góp của khu vực kinh tế tư nhân vào GDP đạt 60 - 65%.

Tại buổi làm việc với Tỉnh ủy Nam Định về tình hình thực hiện Nghị quyết số 09 của Bộ Chính trị (khóa XI) mới đây, ông Trần Tuấn Anh - Trưởng Ban Kinh tế Trung ương, nhận định chất lượng doanh nghiệp, số lượng doanh nghiệp có quy mô vừa và lớn còn rất hạn chế. Đến nay, Việt Nam vẫn chưa có nhiều thương hiệu hàng hóa có sức cạnh tranh trên thị trường khu vực và thế giới…

Cộng đồng doanh nghiệp, doanh nhân đang đứng trước nhiều cơ hội nhưng cũng không ít thách thức từ cuộc cách mạnh công nghiệp 4.0, đại dịch Covid-19, sự chuyển dịch chuỗi cung ứng…

Chí Tín

Đọc thêm

Chính sách thuế mới tạo đà cho hộ kinh doanh phát triển bền vững

Chính sách thuế mới tạo đà cho hộ kinh doanh phát triển bền vững

TS. Phan Phương Nam - Phó Trưởng khoa Luật Thương mại (Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh) nhấn mạnh, công tác tuyên truyền, hỗ trợ cần được chú trọng, để chính sách thuế đối với hộ kinh doanh phát huy tối đa hiệu quả quản lý nhà nước, đồng thời tạo đà phát triển bền vững cho khu vực kinh tế cá thể.
Giảm thuế nhập khẩu xăng dầu về 0%: Hỗ trợ kịp thời, nhưng cần thêm “bộ đệm” chính sách

Giảm thuế nhập khẩu xăng dầu về 0%: Hỗ trợ kịp thời, nhưng cần thêm “bộ đệm” chính sách

Theo PGS.TS Ngô Trí Long (Hiệp hội Tư vấn tài chính Việt Nam), việc giảm thuế nhập khẩu xăng dầu về 0% đến hết tháng 4/2026 là một giải pháp tài khóa đúng lúc, hợp lý và có tác dụng giảm áp lực, nhưng để ổn định thị trường một cách bền vững, thì vẫn phải đi cùng các công cụ khác, chứ không thể dựa riêng vào giảm thuế.
Chính sách tài khóa tiếp tục tạo động lực cho tăng trưởng bền vững

Chính sách tài khóa tiếp tục tạo động lực cho tăng trưởng bền vững

ThS. Lê Thị Mai Liên - Trưởng ban Kinh tế vĩ mô và dự báo, Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính (Bộ Tài chính) cho rằng, cần phối hợp đồng bộ các động lực, để nền kinh tế có thêm dư địa thúc đẩy tăng trưởng nhanh và bền vững trong thời gian tới.
Tăng “sức đề kháng” chuỗi cung ứng trước biến động địa chính trị Trung Đông

Tăng “sức đề kháng” chuỗi cung ứng trước biến động địa chính trị Trung Đông

Trả lời phóng viên, TS. Nguyễn Sơn - Giảng viên ngành quản lý chuỗi cung ứng và logistics, Đại học RMIT Việt Nam cho rằng, rủi ro địa chính trị tại Trung Đông đang tác động tới thương mại và vận tải quốc tế. Việc tăng “sức đề kháng” chuỗi cung ứng sẽ là yếu tố then chốt giúp doanh nghiệp Việt Nam duy trì lợi thế cạnh tranh trong bối cảnh bất ổn toàn cầu.
Chứng khoán Việt có điểm tựa từ nền tảng vĩ mô và triển vọng nâng hạng

Chứng khoán Việt có điểm tựa từ nền tảng vĩ mô và triển vọng nâng hạng

Theo ông Đinh Quang Hinh - Trưởng bộ phận Vĩ mô và Chiến lược Thị trường, Công ty Chứng khoán VNDIRECT, căng thẳng tại Trung Đông và đà tăng mạnh của giá dầu đã tác động tới tâm lý nhà đầu tư trên thị trường tài chính. Tuy vậy, nền tảng kinh tế ổn định, dư địa chính sách và triển vọng nâng hạng vẫn được kỳ vọng giúp chứng khoán Việt Nam duy trì sự cân bằng trước các biến động bên ngoài.
Biến động Trung Đông và bài toán ứng phó của doanh nghiệp logistics

Biến động Trung Đông và bài toán ứng phó của doanh nghiệp logistics

Ông Phạm Quang Long - Giám đốc kinh doanh và phát triển thị trường, Công ty Allied Movers tại Việt Nam cho rằng, xung đột tại Trung Đông tác động tới vận tải biển và hàng không quốc tế, làm gia tăng chi phí và rủi ro logistics. Theo đó, Việt Nam cần củng cố hạ tầng và năng lực logistics để tận dụng cơ hội trong cấu trúc thương mại mới. Về phía doanh nghiệp, cần chủ động thích ứng và có chiến lược kinh doanh phù hợp.
Chủ động xây dựng kịch bản ứng phó với tác động từ xung đột tại Trung Đông

Chủ động xây dựng kịch bản ứng phó với tác động từ xung đột tại Trung Đông

Theo TS. Nguyễn Sơn - giảng viên ngành quản lý chuỗi cung ứng và logistics, Đại học RMIT Việt Nam, để giảm thiểu tác động từ xung đột tại Trung Đông, doanh nghiệp Việt cần chủ động rà soát hợp đồng quốc tế, đa dạng hóa nguồn cung nguyên liệu, điều chỉnh chiến lược logistics và xây dựng kịch bản ứng phó nếu xung đột kéo dài.
Dự báo diễn biến giá vàng khi xung đột Trung Đông “dậy sóng”

Dự báo diễn biến giá vàng khi xung đột Trung Đông “dậy sóng”

Xung đột tại Trung Đông đang khiến thị trường tài chính toàn cầu biến động mạnh, trong đó, vàng tiếp tục là tâm điểm chú ý của nhà đầu tư. TS. Lê Bá Chí Nhân - chuyên gia kinh tế cao cấp cho rằng, biến động quốc tế ngày càng lớn, nếu thiếu cơ chế giao dịch minh bạch, rủi ro đầu cơ và chênh lệch giá vàng sẽ lặp lại. Vì vậy, cần sớm hình thành sàn giao dịch vàng quốc gia và mở rộng nguồn cung theo lộ trình có kiểm soát.
Xem thêm