Tăng cường khung chính sách và giám sát để giải quyết các rủi ro tài chính
Nhiều áp lực gia tăng
Theo bà Dorsati Madani - chuyên gia kinh tế cao cấp của Ngân hàng Thế giới (WB) tại Việt Nam, khu vực tài chính của Việt Nam phải chịu áp lực gia tăng trong năm 2022, do các yếu tố cả trong nước và bên ngoài.
![]() |
| Nguồn: Ngân hàng Phát triển châu Á. Đồ hoạ: Văn Chung |
Trong năm 2022, lạm phát trên toàn cầu và lãi suất gia tăng ở Hoa Kỳ và các quốc gia khác đã có tác động đến lập trường chính sách tiền tệ. Lãi suất trong nước gia tăng, làm tăng chi phí vốn của các ngân hàng, qua đó làm tăng chi phí vay nợ của các cá nhân và doanh nghiệp. Sự kiện rút tiền gửi tăng đột biến trong thời gian ngắn tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn (SCB) hồi tháng 10/2022, sau khi một số cá nhân bị bắt giữ với cáo buộc gian lận trong các thương vụ bất động sản và trái phiếu doanh nghiệp có liên quan đến ngân hàng, đã làm niềm tin vào khu vực ngân hàng và thị trường vốn bị lay chuyển. Các cơ quan có thẩm quyền đã nhanh chóng hành động để xử lý các vấn đề nhiều mặt phát sinh trên các thị trường tài chính. Đồng thời, Nghị định số 65/2022/NĐ-CP đã bổ sung các biện pháp an toàn đối với quy trình phát hành riêng lẻ trái phiếu, bao gồm các yêu cầu về tài sản thế chấp, bảo lãnh và đánh giá định mức tín nhiệm đối với trái phiếu chào bán cho nhà đầu tư cá nhân.
Theo bà Dorsati, tuy các cấp có thẩm quyền đã hành động nhanh chóng, kịp thời để xử lý trên thị trường tài chính, nhưng những sự kiện như vậy làm bộc lộ rõ hơn nguy cơ dễ tổn thương vốn có trong khu vực tài chính của Việt Nam, bao gồm những yếu kém trong giám sát và quản trị doanh nghiệp. Bên cạnh đó, trong năm 2023, áp lực lạm phát kéo dài và viễn cảnh chính sách tiền tệ còn bị thắt chặt hơn nữa, nhất là ở Hoa Kỳ và khu vực đồng tiền chung châu Âu có thể gây ra biến động trên các thị trường tài chính toàn cầu, ảnh hưởng đến khu vực tài chính của Việt Nam.
Cùng quan điểm này, ông Nguyễn Minh Cường - Chuyên gia kinh tế trưởng của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) tại Việt Nam cho biết, sau 3 năm chống chọi với đại dịch Covid-19 kéo dài đã bộc lộ những vấn đề mang tính cơ cấu và cũng là những thách thức chính với nền kinh tế Việt Nam. Thị trường vốn trong nước đang chịu áp lực, khi lượng trái phiếu đáo hạn vào năm 2023 ước tính khoảng 10 tỷ USD, trong đó 42,8% là từ bất động sản và 30,8% từ ngân hàng. Mặc dù sự bất ổn của thị trường vẫn chưa gây ra những rủi ro hệ thống do khả năng chống chịu của các ngân hàng vẫn tốt, song rủi ro ngày càng hiện hữu.
Củng cố khung chính sách và giám sát
Theo bà Dorsati, việc khu vực tài chính Việt Nam trải qua một loạt các cú sốc trong năm 2022 cũng cho thấy những yếu kém và nhu cầu phải cải cách cơ cấu. Tăng cường khung chính sách và giám sát đối với khu vực tài chính sẽ giúp giải quyết các rủi ro tài chính đang lộ diện.
| Sửa đổi luật sẽ tạo điều kiện cải cách Theo WB, việc Việt Nam sửa đổi Luật Các tổ chức tín dụng và Luật Ngân hàng Nhà nước sẽ tạo điều kiện cải cách, bao gồm: tăng cường giám sát các tập đoàn có ngân hàng hợp nhất và hiệu quả giám sát; tăng cường cơ chế xử lý những ngân hàng yếu và mất khả năng thực hiện nghĩa vụ; tăng cường cơ chế giám sát dựa trên rủi ro… |
Trong đó, bà nhấn mạnh 6 lĩnh vực cần cải cách. Một là, tăng cường cơ chế giám sát dựa trên rủi ro của Ngân hàng Nhà nước. Hai là, tăng cường cơ chế giải quyết những ngân hàng yếu hoặc mất khả năng trả nợ. Ba là, thiết lập khuôn khổ cơ chế và chính sách chặt chẽ để giám sát các tập đoàn hợp nhất có thành viên là ngân hàng thương mại, bao gồm phân tách rõ ràng giữa ngân hàng và tập đoàn doanh nghiệp. Bốn là, sửa đổi Luật Các tổ chức tín dụng và Luật Ngân hàng Nhà nước để đảm bảo cơ quan giám sát được giao nhiệm vụ pháp lý và được bảo vệ theo pháp luật khi thực thi nhiệm vụ với thiện chí và trong phạm vi trách nhiệm giám sát. Năm là, tăng cường các chuẩn mực trên thị trường trái phiếu doanh nghiệp, bao gồm thúc đẩy thị trường chào bán đại chúng theo hướng minh bạch hơn (trong mối tương quan với thị trường chào bán riêng lẻ) và tăng cường áp dụng đánh giá định mức tín nhiệm để bảo vệ nhà đầu tư và ngăn ngừa lạm dụng thị trường. Cuối cùng là tăng cường minh bạch chung trong khu vực tài chính qua định kỳ công bố thông tin theo các chỉ tiêu về thị trường tài chính và khu vực ngân hàng một cách kịp thời và đầy đủ chi tiết.
Thiếu minh bạch thông tin và dữ liệu về khu vực ngân hàng có thể góp phần gây ra những bất định và biến động trên thị trường. Nhiều trong số những cải cách nêu trên có thể được triển khai với cách tiếp cận chủ động, tích cực của Chính phủ, bởi vì cần có thời gian để sửa đổi các văn bản pháp lý nền tảng và thay đổi các thông lệ vốn đã tồn tại lâu trong môi trường pháp lý/giám sát.
Hoan nghênh việc Việt Nam đã nhanh chóng chuyển hướng sang chính sách hỗ trợ tăng trưởng, thay vì thắt chặt tiền tệ như các nước khác trên thế giới, ông Nguyễn Minh Cường cho biết, đây là hướng đi đúng đắn và rất kịp thời. Tuy nhiên, vị kinh tế trưởng của ADB cũng lưu ý, mặc dù chuyển sang chính sách tiền tệ nới lỏng hơn, Việt Nam vẫn nên tiếp tục ưu tiên ổn định giá cả, do căng thẳng địa chính trị leo thang và việc đẩy nhanh giải ngân đầu tư công vẫn có thể làm gia tăng lạm phát trong năm 2023. Về dài hạn, cần tiếp tục cải cách tài chính để giảm sự phụ thuộc vào nguồn vốn ngân hàng và nâng cao tính minh bạch trên thị trường trái phiếu.
Dành cho bạn
Đọc thêm
Hải Phòng điều hành kinh tế - xã hội bám sát kịch bản tăng trưởng
TP. Hồ Chí Minh: Muốn tăng trưởng cao phải đổi cách phát triển
Bộ Tài chính chủ động kịp thời, giữ ổn định kinh tế vĩ mô
Chủ động thích ứng, thúc đẩy hoạt động xuất khẩu
Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa chuyển đổi số, phát triển hệ sinh thái số
Thủ tướng chỉ đạo tiếp tục tháo gỡ các dự án tồn đọng, thúc đẩy tăng trưởng



