Tăng lương tối thiểu vùng giúp người lao động gắn bó hơn với doanh nghiệp

Thảo Miên (thực hiện)
Từ 1/7/2022, lương tối thiểu vùng sẽ tăng 6%. Bên cạnh những mong chờ của người lao động về chính sách, vẫn còn một số ý kiến “băn khoăn” về lộ trình áp dụng tăng lương. Phóng viên TBTCVN đã phỏng vấn bà Nguyễn Thu Hương - Quản lý Chương trình cấp cao – Chương trình Quản trị tốt, Tổ chức Oxfam tại Việt Nam xung quanh vấn đề hài hòa lợi ích người lao động - doanh nghiệp khi thực hiện chính sách.
aa

PV: Chính phủ mới đây đã ban hành Nghị định 38/2022/NĐ-CP về việc tăng lương tối thiểu vùng. Theo đó, lương tối thiểu chính thức tăng từ ngày 1/7/2022 với 4 vùng lương. Mức lương tối thiểu này tăng bình quân 6% so với mức lương tối thiểu hiện hành. Bà có bình luận gì về thời điểm tăng lương tối thiểu vùng này sau nhiều lần trì hoãn do Covid-19?

Tăng lương tối thiểu vùng giúp người lao động gắn bó hơn với doanh nghiệp
Bà Nguyễn Thu Hương

Bà Nguyễn Thu Hương: Chúng tôi hoan nghênh Chính phủ đã quyết định tăng mức lương tối thiểu vùng từ ngày 1/7/2022. Đây là quyết định rất cần thiết, hỗ trợ đời sống của người lao động bớt khó khăn do tác động của dịch Covid-19. Mức tăng 6% còn khiêm tốn, vì mức lương tối thiểu theo quy định của Việt Nam thấp hơn so với mức lương một người cần để trang trải các chi phí cần thiết như thực phẩm, nhà ở, chăm sóc sức khỏe và giáo dục. Trong một nghiên cứu của Oxfam “Tiền lương thấp và hệ lụy - Nghiên cứu một số doanh nghiệp (DN) may xuất khẩu ở Việt Nam” thực hiện năm 2018 cho thấy, ngay cả khi mức lương mà hầu hết công nhân may kiếm được cao hơn mức lương tối thiểu quốc gia, thì cũng chưa bằng mức lương đủ sống. Mức lương tối thiểu trung bình quốc gia tại Việt Nam là 3,34 triệu đồng (2018), bằng khoảng 37% mức lương đủ sống của Sàn lương châu Á và 64% mức lương đủ sống của Liên minh Lương đủ sống toàn cầu tính cho Việt Nam.

PV: Việc tăng lương tối thiểu vùng này có ý nghĩa thế nào đối với người lao động trong việc đảm bảo được mức sống tối thiểu từ năm 2022, khi kinh tế, xã hội chuyển sang trạng thái bình thường mới và sản xuất kinh doanh bắt đầu trong giai đoạn phục hồi, thưa bà?

Bà Nguyễn Thu Hương: Tăng lương tối thiểu sẽ có tác động tới người lao động được trả lương theo số giờ làm việc theo quy định, không bị phụ thuộc vào hiệu suất công việc hoặc sản lượng của công nhân. Số công nhân được trả lương thời gian chiếm khoảng 15 - 25% lực lượng lao động ở các công ty. Thông thường khi mức lương tối thiểu tăng, tiền lương của những người hưởng lương thời gian sẽ tăng theo. Phần lớn những nhân viên làm việc theo lương thời gian - nếu không phải là người quản lý hoặc giám sát - thì mức lương cũng chỉ cao hơn một chút so với lương tối thiểu.

Nguồn: Nghị định 38/2022/NĐ-CP.
Nguồn: Nghị định 38/2022/NĐ-CP.

Khoảng trên 75% công nhân hưởng lương theo sản phẩm. Điều này có nghĩa là công nhân được trả một mức lương cơ bản, và sau đó cộng thêm một khoản tiền bổ sung dựa trên số lượng sản phẩm mà họ làm ra. Khi Chính phủ tăng lương tối thiểu, mà DN không điều chỉnh mức lương cơ bản hoặc định mức lương sản phẩm, hoặc điều chỉnh thấp hơn với mức tăng của lương tối thiểu thì việc tăng lương tối thiểu không có tác động gì hoặc tác động không đáng kể đối với người lao động hưởng lương theo sản phẩm.

Tiền lương thấp là nguyên nhân của phần lớn các tranh chấp lao động và đình công ở Việt Nam và là nguyên nhân cơ bản làm cho quan hệ lao động phức tạp. Khi phỏng vấn công nhân, chúng tôi nhận thấy những hệ quả của lương thấp là thường xuyên phải làm thêm giờ để tăng thu nhập; nhiều công nhân bày tỏ họ cảm thấy tự ti trong cuộc sống và họ cho biết cuộc sống của họ chỉ bó hẹp trong công việc với mong đợi kiếm thêm thu nhập.

Quy định các mức lương tối thiểu vùng

Theo Nghị định 38/2022/NĐ-CP, từ 1/7/2022, mức lương tối thiểu vùng tăng thêm bình quân 6% so với quy định tại Nghị định 90/2019/NĐ-CP. Cụ thể: Vùng I tăng 260.000 đồng, từ 4.420.000 đồng/tháng lên 4.680.000 đồng/tháng; vùng II tăng 240.000 đồng, từ 3.920.000 đồng/tháng lên 4.160.000 đồng/tháng; vùng III tăng 210.000 đồng từ 3.430.000 đồng/tháng lên 3.640.000 đồng/tháng; vùng IV tăng 180.000 đồng từ 3.070.000 đồng/tháng lên 3.250.000 đồng/tháng.

PV: Có thể thấy, việc tăng lương tối thiểu trong thời điểm hiện tại là cần thiết để đảm bảo an sinh cho người lao động. Tuy nhiên, nhiều DN đang kêu khó khi thực hiện chính sách này bởi trong 2 năm 2020 - 2021, dịch Covid-19 đã tác động nghiêm trọng đến mọi mặt của DN, khiến DN rất khó khăn. Quan sát tình hình phục hồi của DN cũng như tình hình thực tế hiện nay, bà có cho rằng, việc tăng lương tối thiểu thực tế mang lại lợi ích nhiều cho DN hơn là thiệt hại?

Bà Nguyễn Thu Hương: Trong đại dịch Covid-19 đã có một làn sóng công nhân rời thành phố về quê. Vì thế, sau khi trở lại trạng thái sản xuất “bình thường mới”, nhiều DN đã gặp phải khó khăn khi thiếu hụt nguồn nhân lực, đặc biệt là nhân lực đã được đào tạo. Tôi cho rằng, khi DN tăng lương và cải thiện điều kiện làm việc thì người lao động sẽ gắn bó hơn với DN. Quyết định tăng mức lương tối thiểu vùng này của Chính phủ cũng giúp cho DN thu hút người lao động quay trở lại thị trường lao động hiện nay, sau khi dịch Covid-19 đã được khống chế.

Như đã trao đổi ở trên, mức tăng lương tối thiểu 6% sau gần 2,5 năm không tăng lương là mức khiêm tốn, đặc biệt khi mức lương tối thiểu theo quy định của Việt Nam thấp hơn so với mức lương một người cần để trang trải các chi phí cần thiết của người lao động.

Bên cạnh đó, chi phí lương chiếm một tỷ lệ khá thấp trong giá thành của sản phẩm và việc tăng lương tối thiểu 6% hoặc tăng cao hơn nữa để đảm bảo mức lương đủ sống sẽ không tác động đáng kể tới lợi nhuận của DN khi có sự chia sẻ trách nhiệm của các DN (nhà máy sản xuất, nhà bán buôn, bán lẻ và các nhãn hàng) trong chuỗi cung ứng về đảm bảo lương đủ sống cho người lao động.

PV: Từ tình hình thực tế hiện nay, bà có khuyến nghị gì để việc tăng lương tối thiểu vùng này hài hòa lợi ích của cả người lao động và DN?

Bà Nguyễn Thu Hương: Chính phủ nên xây dựng lộ trình để tăng mức lương tối thiểu quốc gia hiện tại lên mức lương đủ sống, phù hợp với định nghĩa về lương đủ sống được chấp nhận trên toàn cầu. Lộ trình này có thể thực hiện theo khung thời gian xác lập và cho phép thị trường điều chỉnh. Hội đồng Tiền lương quốc gia nên được trao trách nhiệm hỗ trợ trong việc xây dựng lộ trình thực hiện mục tiêu này. Hội đồng Tiền lương quốc gia cần công khai chi tiết hơn về cách tính lương tối thiểu và tham khảo ý kiến công chúng và các chuyên gia.

PV: Xin cảm ơn bà!

Chi phí lương chiếm một tỷ lệ khá thấp trong giá thành của sản phẩm

Bà Nguyễn Thu Hương cho biết, theo nghiên cứu của Oxfam, trung bình chỉ 4% giá một sản phẩm quần áo được bán ở Úc là dành cho chi phí lương công nhân trong các nhà máy may ở châu Á.

Tổ chức Deloitte Access Economics ước tính, ngay cả khi các công ty lớn chuyển toàn bộ chi phí trả lương đủ sống cho công nhân sang người tiêu dùng, thì cũng chỉ làm tăng giá của một sản phẩm quần áo được bán ở Úc lên thêm 1%. Điều này có nghĩa là chỉ mất thêm 10 xu cho một chiếc áo phông trị giá 10 USD. Nói cách khác, để trả lương đủ sống cho công nhân may, các nhãn hàng cần đảm bảo 5% giá bán lẻ một mặt hàng quần áo được dành để trả lương cho công nhân ở các nhà máy sản xuất thay vì chỉ 4% như hiện nay.

Nếu các nhãn hàng cũng chịu trách nhiệm về chi phí lương đủ sống trong chuỗi cung ứng chứ không đẩy toàn bộ trách nhiệm sang chuỗi cung ứng thì họ chỉ phải bỏ thêm chưa tới 1% giá bán lẻ của mỗi sản phẩm quần áo. Các bên trung gian khác trong chuỗi đều có phần lợi nhuận của mình và đều có thể tham gia đóng góp cho khoản 1% này. Nếu tất cả các bên, nhà máy sản xuất, nhà bán buôn và bán lẻ, và các nhãn hàng chia sẻ một phần chi phí tăng thêm trong 1% này để trả mức lương đủ sống, bằng cách tiết kiệm từ các khoản khác trong chi phí kinh doanh của họ, thì chi phí tăng thêm để trả lương đủ sống sẽ ảnh hưởng không đáng kể đến tỷ suất lợi nhuận của các bên.

Thảo Miên (thực hiện)

Đọc thêm

Chính sách thuế mới tạo đà cho hộ kinh doanh phát triển bền vững

Chính sách thuế mới tạo đà cho hộ kinh doanh phát triển bền vững

TS. Phan Phương Nam - Phó Trưởng khoa Luật Thương mại (Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh) nhấn mạnh, công tác tuyên truyền, hỗ trợ cần được chú trọng, để chính sách thuế đối với hộ kinh doanh phát huy tối đa hiệu quả quản lý nhà nước, đồng thời tạo đà phát triển bền vững cho khu vực kinh tế cá thể.
Giảm thuế nhập khẩu xăng dầu về 0%: Hỗ trợ kịp thời, nhưng cần thêm “bộ đệm” chính sách

Giảm thuế nhập khẩu xăng dầu về 0%: Hỗ trợ kịp thời, nhưng cần thêm “bộ đệm” chính sách

Theo PGS.TS Ngô Trí Long (Hiệp hội Tư vấn tài chính Việt Nam), việc giảm thuế nhập khẩu xăng dầu về 0% đến hết tháng 4/2026 là một giải pháp tài khóa đúng lúc, hợp lý và có tác dụng giảm áp lực, nhưng để ổn định thị trường một cách bền vững, thì vẫn phải đi cùng các công cụ khác, chứ không thể dựa riêng vào giảm thuế.
Chính sách tài khóa tiếp tục tạo động lực cho tăng trưởng bền vững

Chính sách tài khóa tiếp tục tạo động lực cho tăng trưởng bền vững

ThS. Lê Thị Mai Liên - Trưởng ban Kinh tế vĩ mô và dự báo, Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính (Bộ Tài chính) cho rằng, cần phối hợp đồng bộ các động lực, để nền kinh tế có thêm dư địa thúc đẩy tăng trưởng nhanh và bền vững trong thời gian tới.
Tăng “sức đề kháng” chuỗi cung ứng trước biến động địa chính trị Trung Đông

Tăng “sức đề kháng” chuỗi cung ứng trước biến động địa chính trị Trung Đông

Trả lời phóng viên, TS. Nguyễn Sơn - Giảng viên ngành quản lý chuỗi cung ứng và logistics, Đại học RMIT Việt Nam cho rằng, rủi ro địa chính trị tại Trung Đông đang tác động tới thương mại và vận tải quốc tế. Việc tăng “sức đề kháng” chuỗi cung ứng sẽ là yếu tố then chốt giúp doanh nghiệp Việt Nam duy trì lợi thế cạnh tranh trong bối cảnh bất ổn toàn cầu.
Chứng khoán Việt có điểm tựa từ nền tảng vĩ mô và triển vọng nâng hạng

Chứng khoán Việt có điểm tựa từ nền tảng vĩ mô và triển vọng nâng hạng

Theo ông Đinh Quang Hinh - Trưởng bộ phận Vĩ mô và Chiến lược Thị trường, Công ty Chứng khoán VNDIRECT, căng thẳng tại Trung Đông và đà tăng mạnh của giá dầu đã tác động tới tâm lý nhà đầu tư trên thị trường tài chính. Tuy vậy, nền tảng kinh tế ổn định, dư địa chính sách và triển vọng nâng hạng vẫn được kỳ vọng giúp chứng khoán Việt Nam duy trì sự cân bằng trước các biến động bên ngoài.
Biến động Trung Đông và bài toán ứng phó của doanh nghiệp logistics

Biến động Trung Đông và bài toán ứng phó của doanh nghiệp logistics

Ông Phạm Quang Long - Giám đốc kinh doanh và phát triển thị trường, Công ty Allied Movers tại Việt Nam cho rằng, xung đột tại Trung Đông tác động tới vận tải biển và hàng không quốc tế, làm gia tăng chi phí và rủi ro logistics. Theo đó, Việt Nam cần củng cố hạ tầng và năng lực logistics để tận dụng cơ hội trong cấu trúc thương mại mới. Về phía doanh nghiệp, cần chủ động thích ứng và có chiến lược kinh doanh phù hợp.
Chủ động xây dựng kịch bản ứng phó với tác động từ xung đột tại Trung Đông

Chủ động xây dựng kịch bản ứng phó với tác động từ xung đột tại Trung Đông

Theo TS. Nguyễn Sơn - giảng viên ngành quản lý chuỗi cung ứng và logistics, Đại học RMIT Việt Nam, để giảm thiểu tác động từ xung đột tại Trung Đông, doanh nghiệp Việt cần chủ động rà soát hợp đồng quốc tế, đa dạng hóa nguồn cung nguyên liệu, điều chỉnh chiến lược logistics và xây dựng kịch bản ứng phó nếu xung đột kéo dài.
Dự báo diễn biến giá vàng khi xung đột Trung Đông “dậy sóng”

Dự báo diễn biến giá vàng khi xung đột Trung Đông “dậy sóng”

Xung đột tại Trung Đông đang khiến thị trường tài chính toàn cầu biến động mạnh, trong đó, vàng tiếp tục là tâm điểm chú ý của nhà đầu tư. TS. Lê Bá Chí Nhân - chuyên gia kinh tế cao cấp cho rằng, biến động quốc tế ngày càng lớn, nếu thiếu cơ chế giao dịch minh bạch, rủi ro đầu cơ và chênh lệch giá vàng sẽ lặp lại. Vì vậy, cần sớm hình thành sàn giao dịch vàng quốc gia và mở rộng nguồn cung theo lộ trình có kiểm soát.
Xem thêm