Việt Nam cần chuẩn bị cho thời kỳ năng lượng nhiều biến động

Luyện Vũ
Trao đổi với phóng viên, GS.TS Andreas Stoffers (Đại học FOM, Đức) cho rằng, tác động lớn nhất từ việc UAE rời OPEC không nằm ở giá dầu tăng hay giảm, mà ở mức độ khó lường ngày càng lớn của thị trường năng lượng toàn cầu. Điều này đặt ra yêu cầu Việt Nam phải nâng cao khả năng chống chịu, đa dạng hóa nguồn cung và đẩy nhanh chuyển dịch năng lượng.
aa

PV: UAE gần đây đã rời OPEC. Sự kiện này cùng với những bất ổn liên quan đến nguồn cung dầu từ Trung Đông, sẽ ảnh hưởng như thế nào đến Việt Nam, trong bối cảnh Việt Nam vẫn là một nền kinh tế phụ thuộc lớn vào năng lượng nhập khẩu, thưa ông?

Việt Nam cần chuẩn bị cho thời kỳ năng lượng nhiều biến động
GS.TS Andreas Stoffers

GS.TS Andreas Stoffers: Đối với Việt Nam, tôi cho rằng, diễn biến này vừa là cơ hội, vừa là lời cảnh báo. Nếu UAE trong tương lai thực sự gia tăng sản lượng bên ngoài hệ thống hạn ngạch, điều đó có thể góp phần làm giảm giá dầu toàn cầu. Đây sẽ là tín hiệu tích cực đối với các nền kinh tế nhập khẩu năng lượng. Giá dầu thấp hơn giúp giảm áp lực lạm phát, hạ chi phí logistics và vận tải, đồng thời hỗ trợ sức mua của người dân.

Điều này tác động trực tiếp đến Việt Nam. Việt Nam là một trong những nền kinh tế có độ mở cao nhất châu Á và hội nhập sâu vào nền kinh tế toàn cầu. Mô hình tăng trưởng của Việt Nam phụ thuộc rất lớn vào sản xuất công nghiệp, xuất khẩu, logistics và các chuỗi giá trị toàn cầu. Vì vậy, giá năng lượng ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí sản xuất, chi phí vận chuyển, giá nhập khẩu, năng lực cạnh tranh xuất khẩu cũng như lạm phát.

Tuy nhiên, theo tôi không nên quá lạc quan quá sớm. Bài học lớn hơn từ việc UAE rời OPEC là thị trường năng lượng đang ngày càng trở nên khó dự đoán hơn. Hôm nay vấn đề là sự phối hợp trong OPEC. Ngày mai có thể là một điểm nghẽn hàng hải khác, một xung đột địa chính trị, chi phí bảo hiểm vận tải biển tăng cao, áp lực tỷ giá hoặc một sự gián đoạn bất ngờ trong chuỗi cung ứng. Chúng ta cần nhận thức rằng những sự kiện “thiên nga đen” hoàn toàn có thể xảy ra bất cứ lúc nào, ở bất kỳ đâu.

Đối với một quốc gia như Việt Nam, vấn đề cốt lõi không phải là giá dầu sẽ tăng hay giảm trong tuần tới mà là sự biến động. Sự biến động khiến việc lập kế hoạch trở nên khó khăn hơn đối với doanh nghiệp, nhà đầu tư và cả các nhà hoạch định chính sách. Nó ảnh hưởng đến tính toán kinh doanh của doanh nghiệp, lạm phát, lãi suất, tỷ giá và tài chính công.

PV: Trong bối cảnh năng lượng ngày càng gắn chặt với chiến lược quốc gia và an ninh địa chính trị, theo ông, Việt Nam nên điều chỉnh tư duy chính sách năng lượng như thế nào để thích ứng?

GS.TS Andreas Stoffers: Trong khoảng một năm rưỡi qua, Việt Nam đã triển khai hàng loạt sáng kiến cải cách nhằm nâng cao khả năng chống chịu và năng suất của nền kinh tế. Những cải cách này bao gồm việc nhấn mạnh phát triển khu vực kinh tế tư nhân theo Nghị quyết 68-NQ/TW, cải cách lập pháp và hành chính theo Nghị quyết 66-NQ/TW, thúc đẩy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số theo Nghị quyết 57-NQ/TW, cũng như Luật Công nghiệp Công nghệ số. Trong bối cảnh cải cách rộng lớn đó, an ninh năng lượng không phải là vấn đề tách rời khỏi phát triển kinh tế. Việc nâng cao năng lực chống chịu đóng vai trò then chốt trong nhiều cải cách nói trên.

Tuy nhiên, sẽ là rất nguy hiểm nếu chỉ tự hài lòng với những thành quả hiện tại và kỳ vọng rằng đà tăng trưởng kinh tế những năm gần đây sẽ tự động tiếp diễn. Từ kinh nghiệm của chính tôi tại Việt Nam - cả trong lĩnh vực ngân hàng lẫn công việc liên quan đến chính sách - tôi cho rằng Việt Nam rất giỏi trong việc phản ứng nhanh trước các cú sốc bên ngoài. Điều này đã được chứng minh nhiều lần trong vài thập kỷ qua. Nhưng giai đoạn phát triển tiếp theo đòi hỏi nhiều hơn là phản ứng nhanh. Nó đòi hỏi sự chuẩn bị mang tính cấu trúc.

Mục tiêu của Việt Nam là trở thành quốc gia công nghiệp hiện đại vào năm 2045. Một nền kinh tế như vậy không thể chỉ dựa vào nguồn năng lượng giá rẻ. Việt Nam cần một nguồn cung năng lượng an toàn, đa dạng, có giá hợp lý và có thể dự đoán được. Điều này càng trở nên quan trọng hơn trong kỷ nguyên số hóa và trí tuệ nhân tạo (AI), khi các trung tâm dữ liệu, ngành sản xuất tiên tiến - bao gồm cả sản xuất bồi đắp (additive manufacturing) - cùng với các hệ thống logistics hiện đại đều sẽ cần nguồn điện ổn định với quy mô lớn.

Vì vậy, Việt Nam nên tiếp cận chính sách năng lượng theo ba chiều cạnh: an ninh, năng lực cạnh tranh và chuyển đổi. Nguồn cung năng lượng phải đủ an toàn để bảo vệ nền kinh tế trước các cú sốc từ bên ngoài. Đồng thời, nó cũng phải đủ cạnh tranh để hỗ trợ hoạt động sản xuất công nghiệp và xuất khẩu.

Việt Nam cần chuẩn bị cho thời kỳ năng lượng nhiều biến động
Hệ thống kho cảng LNG Thị Vải. Ảnh: An Thư

PV: Theo ông, Việt Nam nên ưu tiên những vấn đề gì để xây dựng khả năng chống chịu dài hạn trước các cú sốc năng lượng toàn cầu, đồng thời tận dụng các cơ hội từ quá trình chuyển dịch sang năng lượng xanh và năng lượng tái tạo?

GS.TS Andreas Stoffers: Tôi cho rằng Việt Nam nên theo đuổi một cách tiếp cận thực dụng. Việt Nam không nên cố gắng dự đoán chính xác tuyệt đối giá dầu trong tương lai, bởi không quốc gia nào có thể làm được điều đó. Thay vào đó, Việt Nam nên tập trung vào việc nâng cao khả năng chống chịu. Theo quan điểm của tôi, có bốn ưu tiên đặc biệt quan trọng:

Thứ nhất, Việt Nam cần đa dạng hóa nguồn cung năng lượng và tránh phụ thuộc quá mức vào một khu vực hay một tuyến vận tải duy nhất. Tình hình hiện nay cho thấy rất rõ thương mại toàn cầu có thể trở nên dễ tổn thương như thế nào khi một điểm nghẽn chiến lược lớn bị gián đoạn.

Thứ hai, Việt Nam cần tăng cường dự trữ chiến lược và xây dựng các kịch bản ứng phó khẩn cấp. Điều này không chỉ liên quan đến Nhà nước mà còn bao gồm các doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp vừa và nhỏ, các đơn vị logistics và các khu công nghiệp. Mục tiêu là nâng cao năng lực quản trị rủi ro đối với chi phí năng lượng và vận tải.

Thứ ba, Việt Nam cần đẩy nhanh quá trình chuyển dịch năng lượng trong nước theo hướng thực dụng. Điều này bao gồm phát triển năng lượng tái tạo, đầu tư lưới điện, nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng, tăng cường năng lực lưu trữ và phát triển LNG ở những lĩnh vực phù hợp. Điện hạt nhân cũng có thể là một lựa chọn trong dài hạn, với điều kiện phải có khuôn khổ rõ ràng về an toàn, tài chính và năng lực quản lý nhà nước.

Thứ tư, Việt Nam cần gắn kết chặt chẽ hơn chính sách năng lượng với chính sách công nghiệp. Điều này bao gồm việc cải thiện năng lực quản trị rủi ro cho các doanh nghiệp và cơ quan công phụ thuộc nhiều vào chi phí năng lượng và logistics.

Cú sốc dầu mỏ hiện nay không nên chỉ được nhìn nhận theo hướng tiêu cực, mà nên được xem như một lời cảnh tỉnh. Nó nhắc nhở chúng ta rằng một quốc gia đang công nghiệp hóa cần nỗ lực nhiều hơn nữa để nâng cao khả năng chống chịu của nền kinh tế. Điều khiến tôi lạc quan là các nhà hoạch định chính sách của Việt Nam ngày càng hiểu rõ mối liên hệ này. An ninh năng lượng, chuyển dịch năng lượng và hiện đại hóa kĩ thuật số không còn là những chương trình nghị sự tách biệt, chúng gắn kết chặt chẽ với nhau. Đối với Việt Nam, điều này có thể trở thành một lợi thế cạnh tranh mang tính quyết định trong giai đoạn phát triển tiếp theo.

PV: Xin cảm ơn ông!

Luyện Vũ

Đọc thêm

Ngân hàng giữ “sức khỏe” tài sản, bảo đảm an toàn cho hành trình tăng trưởng cao

PGS.TS. Nguyễn Hữu Huân - Khoa Ngân hàng, Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh cho rằng, nợ xấu tăng nhanh hơn tín dụng là tín hiệu cho thấy phải ưu tiên chất lượng tăng trưởng. Kiểm soát tốt chất lượng tài sản, ưu tiên các giải pháp trọng tâm giúp hệ thống ngân hàng có nền tảng lành mạnh hơn để hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng cao những năm tới, mà không tạo ra rủi ro tài chính lớn về sau.

Mở dư địa phát triển, quỹ bảo hiểm hưu trí bổ sung tăng sức hút nhờ “lãi kép”

Trao đổi với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư, bà Lê Vân - Giám đốc Ban Phát triển Kinh doanh Công ty TNHH Quản lý Quỹ Vietcombank (VCBF) nhấn mạnh những thay đổi mang tính định hình lại “luật chơi”, phát triển bảo hiểm hưu trí bổ sung. Trong đó, việc mở rộng danh mục đầu tư có thể giúp quỹ đạt lợi suất ròng dài hạn cạnh tranh hơn, tăng sức hấp dẫn nhờ hiệu ứng “lãi kép” từ đầu tư dài hạn và ưu đãi thuế.

Cơ chế bảo lãnh và tín nhiệm quyết định sức hút của trái phiếu PPP

Theo ông Nguyễn Quang Thuân - Chủ tịch FiinGroup và FiinRatings, cơ chế bảo lãnh thanh toán cùng hoạt động xếp hạng tín nhiệm đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao sức hấp dẫn của trái phiếu PPP đối với các nhà đầu tư dài hạn.

Việt Nam thịnh vượng và mạnh mẽ sẽ mang lại lợi ích to lớn cho Singapore

Nhân dịp Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm thăm cấp nhà nước tới Singapore vào ngày 29/5/2026, Đại sứ Singapore tại Việt Nam - ông Rajpal Singh đã có cuộc trả lời phỏng vấn báo Tài chính - Đầu tư về quan hệ hợp tác hai nước. Theo Đại sứ thì một Việt Nam mạnh mẽ và thịnh vượng sẽ mang lại lợi ích to lớn cho Singapore, ASEAN và cộng đồng quốc tế.

Nâng chất lượng hàng hóa để đón dòng vốn ngoại hậu nâng hạng

Việc nâng hạng thị trường không chỉ mang ý nghĩa thu hút dòng vốn quốc tế mà còn đặt ra yêu cầu cải thiện chất lượng hàng hóa trên thị trường chứng khoán. Theo ông Lương Duy Phước - Giám đốc Phân tích Công ty cổ phần Chứng khoán Kafi đẩy mạnh thoái vốn nhà nước, gia tăng tỷ lệ cổ phiếu tự do chuyển nhượng và nâng cao tính minh bạch sẽ là những yếu tố then chốt giúp thị trường tận dụng hiệu quả cơ hội từ quá trình nâng hạng.

Thu hút FDI xanh và công nghệ cao, tạo đà tăng trưởng bền vững

Trao đổi với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư, TS. Trần Toàn Thắng - Trưởng ban Ban Quốc tế và chính sách hội nhập, Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính (Bộ Tài chính) nhấn mạnh, Việt Nam cần thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào công nghệ cao, dự án xanh, để tạo đà cho tăng trưởng bền vững trong thời gian tới.

Doanh nghiệp hạ tầng bước vào cuộc đua năng lực và sức khỏe tài chính

Theo ông Tyler Nguyễn Mạnh Dũng - Giám đốc Cấp cao Nghiên cứu Chiến lược Thị trường tại HSC, chu kỳ đẩy mạnh đầu tư công và phát triển hạ tầng đang mở ra dư địa tăng trưởng lớn cho nhiều doanh nghiệp. Tuy nhiên, áp lực huy động vốn dài hạn cùng yêu cầu cao hơn về năng lực thi công, quản trị và sức khỏe tài chính đang khiến thị trường hạ tầng bước vào giai đoạn phân hóa mạnh.

Khung pháp lý trái phiếu PPP: Cần hướng tới xây dựng một lớp tài sản hạ tầng dài hạn, tin cậy

Theo TS. Nguyễn Kinh Luân - Thành viên Hội đồng Quản trị - Phó Tổng giám đốc Đầu tư và Phát triển thị trường quốc tế, Tập đoàn Xây dựng Hòa Bình, khung pháp lý cho trái phiếu PPP cần hướng tới xây dựng một lớp tài sản hạ tầng dài hạn, minh bạch và đáng tin cậy trên thị trường vốn Việt Nam.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều