Việt Nam có tiềm năng đạt tăng trưởng cao năm 2025

Trả lời phóng viên TBTCVN, ông Nguyễn Bá Hùng - chuyên gia kinh tế trưởng của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) tại Việt Nam khẳng định, triển vọng tăng trưởng năm 2025 của Việt Nam là tích cực và có tiềm năng để đạt được tăng trưởng cao. Nhưng nếu không làm gì thì sẽ không đạt được, muốn vậy thì phải cần rất nhiều nỗ lực.
aa
Việt Nam có tiềm năng đạt tăng trưởng cao năm 2025
Trong bối cảnh của Việt Nam hiện nay thì vẫn phải dùng biện pháp tài khóa để kích cầu nội địa. Ảnh TL
Việt Nam có tiềm năng đạt tăng trưởng cao năm 2025

PV: Trong phiên họp thường kỳ ngày 5/2, Chính phủ đề ra mục tiêu tăng trưởng 2025 là 8%. Ông nghĩ sao về mục tiêu này?

Ông Nguyễn Bá Hùng: Mục tiêu này cho thấy Chính phủ khá lạc quan về tăng trưởng của Việt Nam trong năm 2025. Xét trên đà tăng trưởng tích cực của năm 2024 thì mục tiêu trên có khả thi, tuy nhiên, việc có đạt được mục tiêu này hay không lại phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Trong đó có cả yếu tố thị trường quốc tế nằm ngoài tầm kiểm soát của chúng ta.

PV: Ông có thể phân tích rõ hơn về những thuận lợi và khó khăn đối với triển vọng kinh tế Việt Nam 2025?

Ông Nguyễn Bá Hùng: Thuận lợi trước tiên là đà tăng trưởng tích cực của 2024. Bên cạnh đó, còn có rất nhiều việc mà chúng ta có thể làm tốt hơn nữa để thúc đẩy tăng trưởng. Chẳng hạn như đầu tư công, thúc giải ngân tốt hơn hoặc thậm chí là nâng quy mô đầu tư công lên sẽ mang lại cơ hội lớn tăng trưởng năm 2025.

Có thể vay nợ thêm để đầu tư cho hạ tầng

Mức nợ công của Việt Nam đang thấp (năm 2024 là khoảng 36% GDP) nên nếu cần thiết, hoàn toàn có thể vay nợ thêm để đầu tư cho hạ tầng. Nợ công có thể tăng lên đến 40 - 50% GDP vẫn là mức an toàn, chứ không nhất thiết là phải giảm nợ công nữa.

Một thuận lợi lớn khác là ý chí quyết tâm vào cuộc của lãnh đạo Đảng và Nhà nước cũng như các cơ quan ban ngành từ trung ương xuống địa phương, trên tinh thần nhìn thẳng sự thật, xác định điểm nghẽn, giải pháp cụ thể, chỉ bàn làm không bàn lùi. Hiệu quả của việc này thì cần thời gian để kiểm chứng nhưng trước mắt, điều này là rất tích cực và đúng hướng.

Bên cạnh đó, những ổn định vĩ mô khác thì tôi cho rằng cơ bản cũng vẫn sẽ tương đối thuận lợi. Nợ công tích cực, đang ở ngưỡng rất an toàn. Mức nợ công của Việt Nam đang thấp (năm 2024 là khoảng 36% GDP) nên nếu cần thiết, hoàn toàn có thể vay nợ thêm để đầu tư cho hạ tầng. Nợ công có thể tăng lên đến 40 - 50% GDP vẫn là mức an toàn, chứ không nhất thiết là phải giảm nợ công nữa.

Tuy nhiên, bên cạnh những mặt thuận lợi, kinh tế Việt Nam 2025 cũng phải đối mặt với không ít khó khăn. Trong đó, khó khăn, khó lường nhất hiện tại là thương mại. Có thể trong thời gian ngắn trước mắt, thương mại vẫn duy trì được tăng trưởng tốt, do xuất khẩu sang Mỹ có thể tăng đột biến khi người dân Mỹ tích hàng, mua trước để tránh bị tăng giá do chính sách thuế quan của chính quyền Trump. Nếu trong tình huống hàng Việt Nam bị áp thuế thì đây sẽ là khó khăn cho xuất khẩu của Việt Nam. Một rủi ro kèm theo của chính sách thuế quan này là FDI. Khi thương mại kém đi thì FDI sẽ kém theo, vì FDI vào Việt Nam thời gian vừa qua chủ yếu là FDI xuất khẩu, xuất khẩu kém đi thì thu hút FDI cũng kém. Hai động lực xuất khẩu và FDI năm ngoái Việt Nam làm rất tốt nhưng triển vọng của năm nay sẽ khó khăn hơn.

Về cầu nội địa, năm 2024 có tăng trưởng tốt nhưng vẫn chưa đạt được mức tăng trưởng như kỳ vọng, cần được tiếp tục kích cầu hơn nữa. Các doanh nghiệp trong nước mấy năm vừa qua cũng vẫn đang khó khăn nên chủ yếu vẫn phải kích bằng đầu tư công và tài khóa.

Triển vọng tăng trưởng của Việt Nam là tích cực và có tiềm năng để đạt được tăng trưởng cao. Nhưng nếu không làm gì thì sẽ không đạt được, muốn đạt được thì phải cần rất nhiều nỗ lực. Biện pháp có nhiều, nhưng quan trọng nhất trong đó là hiệu quả thực thi. Cần phải nỗ lực làm tốt hơn năm trước thì mới có cơ hội để đạt được kết quả tốt hơn.

PV: Như ông vừa đề cập đến chính sách tài khóa hỗ trợ doanh nghiệp, theo ông, chính sách tài khóa trong năm 2025 này cần chú ý điều gì?

Ông Nguyễn Bá Hùng: Tôi cho rằng, vẫn nên tiếp tục duy trì chính sách tài khóa mở rộng, linh hoạt. Trong bối cảnh của Việt Nam hiện nay thì vẫn phải dùng biện pháp tài khóa để kích cầu nội địa do cầu đội địa vẫn yếu. Việc tiếp tục giảm 2% thuế giá trị gia tăng đến hết tháng 6/2025 là rất đáng hoan nghênh. Nếu trong thời gian tới, tùy thuộc vào tình hình thực tế, nếu cần thiết phải tiếp tục gia hạn thêm chính sách này để kích cầu thì Chính phủ sẽ cân nhắc tiếp tục.

Điều quan trọng hơn cả là đầu tư công là động lực, là bệ đỡ cho tăng trưởng khi tác động lan tỏa của đầu tư công là rất lớn. Do đó, cần quyết liệt thúc giải ngân đầu tư công ngay từ những tháng đầu năm, để đạt kết quả giải ngân tốt hơn nữa.

Bên cạnh đó, cần thực hiện tốt các chính sách hỗ trợ, đơn cử như gói hỗ trợ cho tinh giản bộ máy. Cần thực hiện tốt để hỗ trợ cho những người thuộc diện chuyển đổi nghề nghiệp, nhưng cũng là tăng nguồn chi tiêu, đóng góp một phần vào kích cầu. Tiếp nữa là các chương trình xã hội hỗ trợ người lao động, đào tạo nhân lực hay các chương trình hỗ trợ tín dụng nhà ở xã hội...Các chính sách đều rất tích cực, đúng hướng, quan trọng là phần thực thi cần được thúc đẩy hiệu quả hơn nữa.

Ngoài ra, chính sách tiền tệ cũng cần được phối hợp một cách chặt chẽ, linh hoạt với chính sách tài khóa. Cơ bản mức lãi suất chính sách cũng đang ở ngưỡng thấp, tương đối gần với lạm phát nên cũng không có nhiều dư địa để giảm.

PV: Xin cảm ơn ông!

Tiếp tục đầu tư hạ tầng để đẩy mạnh thu hút FDI

Trả lời câu hỏi về việc Việt Nam cần làm gì để tiếp tục thu hút mới và giữ chân đầu tư FDI, ông Nguyễn Bá Hùng cho rằng, cần tiếp tục chú trọng đầu tư hạ tầng.

Theo đó, thu hút FDI của Việt Nam thời gian tới khả năng vẫn tích cực nhưng phụ thuộc vào môi trường quốc tế. Thời gian vừa qua, cả Đông Nam Á nói chung chứ không riêng Việt Nam là nơi được hưởng lợi trong việc thu hút dòng vốn FDI. Vì vậy, để tiếp tục thu hút FDI, Việt Nam còn phải cạnh tranh với các nước xung quanh. Nếu chỉ là những thứ có thể kiểm soát được thì đương nhiên môi trường thông thoáng như thời gian vừa qua của Việt Nam là thuận lợi. Để nâng cao sự cạnh tranh đó thì phải giảm chi phí bằng cách đầu tư hạ tầng tốt hơn.

Theo chuyên gia của ADB, đầu tư vào hạ tầng còn giúp cho các doanh nghiệp tư nhân trong nước “lớn” lên, qua đó thúc đẩy được đầu tư tư nhân, hỗ trợ cho tăng trưởng. Bên cạnh đó, có thể hỗ trợ cho các doanh nghiệp trong nước nâng cao sức cạnh tranh hơn để gia tăng tỷ lệ nội địa hóa, cung ứng đầu vào cho các doanh nghiệp FDI. Hiện nay, phần lớn các doanh nghiệp FDI hướng ra xuất khẩu đều nhập khẩu đầu vào là chủ yếu, doanh nghiệp nội địa cung cấp được cho họ còn đang rất yếu. Vì vậy, hỗ trợ có thể đi theo hướng kết nối các doanh nghiệp trong nước với các doanh nghiệp FDI để thúc đẩy tốt hơn tỷ lệ nội địa hóa./.

Thảo Miên

Đọc thêm

Chính sách thuế mới tạo đà cho hộ kinh doanh phát triển bền vững

Chính sách thuế mới tạo đà cho hộ kinh doanh phát triển bền vững

TS. Phan Phương Nam - Phó Trưởng khoa Luật Thương mại (Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh) nhấn mạnh, công tác tuyên truyền, hỗ trợ cần được chú trọng, để chính sách thuế đối với hộ kinh doanh phát huy tối đa hiệu quả quản lý nhà nước, đồng thời tạo đà phát triển bền vững cho khu vực kinh tế cá thể.
Giảm thuế nhập khẩu xăng dầu về 0%: Hỗ trợ kịp thời, nhưng cần thêm “bộ đệm” chính sách

Giảm thuế nhập khẩu xăng dầu về 0%: Hỗ trợ kịp thời, nhưng cần thêm “bộ đệm” chính sách

Theo PGS.TS Ngô Trí Long (Hiệp hội Tư vấn tài chính Việt Nam), việc giảm thuế nhập khẩu xăng dầu về 0% đến hết tháng 4/2026 là một giải pháp tài khóa đúng lúc, hợp lý và có tác dụng giảm áp lực, nhưng để ổn định thị trường một cách bền vững, thì vẫn phải đi cùng các công cụ khác, chứ không thể dựa riêng vào giảm thuế.
Chính sách tài khóa tiếp tục tạo động lực cho tăng trưởng bền vững

Chính sách tài khóa tiếp tục tạo động lực cho tăng trưởng bền vững

ThS. Lê Thị Mai Liên - Trưởng ban Kinh tế vĩ mô và dự báo, Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính (Bộ Tài chính) cho rằng, cần phối hợp đồng bộ các động lực, để nền kinh tế có thêm dư địa thúc đẩy tăng trưởng nhanh và bền vững trong thời gian tới.
Tăng “sức đề kháng” chuỗi cung ứng trước biến động địa chính trị Trung Đông

Tăng “sức đề kháng” chuỗi cung ứng trước biến động địa chính trị Trung Đông

Trả lời phóng viên, TS. Nguyễn Sơn - Giảng viên ngành quản lý chuỗi cung ứng và logistics, Đại học RMIT Việt Nam cho rằng, rủi ro địa chính trị tại Trung Đông đang tác động tới thương mại và vận tải quốc tế. Việc tăng “sức đề kháng” chuỗi cung ứng sẽ là yếu tố then chốt giúp doanh nghiệp Việt Nam duy trì lợi thế cạnh tranh trong bối cảnh bất ổn toàn cầu.
Chứng khoán Việt có điểm tựa từ nền tảng vĩ mô và triển vọng nâng hạng

Chứng khoán Việt có điểm tựa từ nền tảng vĩ mô và triển vọng nâng hạng

Theo ông Đinh Quang Hinh - Trưởng bộ phận Vĩ mô và Chiến lược Thị trường, Công ty Chứng khoán VNDIRECT, căng thẳng tại Trung Đông và đà tăng mạnh của giá dầu đã tác động tới tâm lý nhà đầu tư trên thị trường tài chính. Tuy vậy, nền tảng kinh tế ổn định, dư địa chính sách và triển vọng nâng hạng vẫn được kỳ vọng giúp chứng khoán Việt Nam duy trì sự cân bằng trước các biến động bên ngoài.
Biến động Trung Đông và bài toán ứng phó của doanh nghiệp logistics

Biến động Trung Đông và bài toán ứng phó của doanh nghiệp logistics

Ông Phạm Quang Long - Giám đốc kinh doanh và phát triển thị trường, Công ty Allied Movers tại Việt Nam cho rằng, xung đột tại Trung Đông tác động tới vận tải biển và hàng không quốc tế, làm gia tăng chi phí và rủi ro logistics. Theo đó, Việt Nam cần củng cố hạ tầng và năng lực logistics để tận dụng cơ hội trong cấu trúc thương mại mới. Về phía doanh nghiệp, cần chủ động thích ứng và có chiến lược kinh doanh phù hợp.
Chủ động xây dựng kịch bản ứng phó với tác động từ xung đột tại Trung Đông

Chủ động xây dựng kịch bản ứng phó với tác động từ xung đột tại Trung Đông

Theo TS. Nguyễn Sơn - giảng viên ngành quản lý chuỗi cung ứng và logistics, Đại học RMIT Việt Nam, để giảm thiểu tác động từ xung đột tại Trung Đông, doanh nghiệp Việt cần chủ động rà soát hợp đồng quốc tế, đa dạng hóa nguồn cung nguyên liệu, điều chỉnh chiến lược logistics và xây dựng kịch bản ứng phó nếu xung đột kéo dài.
Dự báo diễn biến giá vàng khi xung đột Trung Đông “dậy sóng”

Dự báo diễn biến giá vàng khi xung đột Trung Đông “dậy sóng”

Xung đột tại Trung Đông đang khiến thị trường tài chính toàn cầu biến động mạnh, trong đó, vàng tiếp tục là tâm điểm chú ý của nhà đầu tư. TS. Lê Bá Chí Nhân - chuyên gia kinh tế cao cấp cho rằng, biến động quốc tế ngày càng lớn, nếu thiếu cơ chế giao dịch minh bạch, rủi ro đầu cơ và chênh lệch giá vàng sẽ lặp lại. Vì vậy, cần sớm hình thành sàn giao dịch vàng quốc gia và mở rộng nguồn cung theo lộ trình có kiểm soát.
Xem thêm