Áp lực thanh khoản ngân hàng vẫn khó hạ nhiệt

Theo dự báo của Công ty cổ phần Chứng khoán Rồng Việt, áp lực thanh khoản hệ thống ngân hàng và xu hướng tăng của lãi suất chưa sớm chấm dứt, trong bối cảnh tăng trưởng huy động tiếp tục thấp hơn tín dụng.
aa
Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 5/2026 Vẫn xuất hiện ngân hàng tăng lãi suất huy động, Ngân hàng Nhà nước yêu cầu siết kiểm tra Ngân hàng “án binh bất động”, lãi suất huy động khó giảm sâu

Trong báo cáo cập nhật ngành ngân hàng mới phát hành, Công ty cổ phần Chứng khoán Rồng Việt (VDSC) nhận định, lợi nhuận ngành ngân hàng giữ đà tăng trưởng trong quý I/2026, song áp lực thanh khoản chưa sớm chấm dứt.

Theo nhóm phân tích VDSC, tăng trưởng huy động của các ngân hàng niêm yết tính đến hết quý I/2026 đạt 1,7%, thấp hơn 1,8 điểm phần trăm so với tăng trưởng tín dụng, cho thấy khoảng cách giữa tăng trưởng huy động và tăng trưởng tín dụng vẫn chưa được thu hẹp đáng kể.

Điều này kéo chi phí vốn toàn ngành tăng 55 điểm cơ bản so với cùng kỳ và tăng 30 điểm cơ bản so với quý trước, lên mức 4,2%, trong khi áp lực thanh khoản chưa cho thấy dấu hiệu sớm hạ nhiệt.

Áp lực thanh khoản ngân hàng vẫn khó hạ nhiệt

Điều này diễn ra trong bối cảnh hầu hết ngân hàng gặp khó khăn trong huy động tiền gửi khách hàng, với tăng trưởng chung chỉ đạt 0,6% từ đầu năm, bất chấp mặt bằng lãi suất đã tăng 150 - 250 điểm cơ bản trong quý I/2026, buộc các ngân hàng phải gia tăng huy động từ phát hành giấy tờ có giá, với mức tăng trưởng 9,8% từ đầu năm.

“Áp lực thanh khoản hệ thống ngân hàng và xu hướng tăng của lãi suất được dự báo chưa sớm chấm dứt khi các yếu tố nền tảng vẫn chưa cải thiện rõ rệt. Tính đến cuối tháng 4/2026, tăng trưởng huy động chỉ đạt 2,2% từ đầu năm trong khi tăng trưởng tín dụng đã ở mức 4,4%, cho thấy khoảng cách giữa huy động và tín dụng tiếp tục bị kéo giãn” - VDSC nêu quan điểm.

Một trong những nguyên nhân được VDSC đánh giá là thặng dư ngân sách vẫn lớn hơn mức tăng tiền gửi Kho bạc Nhà nước tại hệ thống ngân hàng thương mại.

Trong quý I/2026, thặng dư ngân sách lũy kế đạt gần 300.000 tỷ đồng, trong khi mức tăng gửi tiền của Kho bạc Nhà nước trở lại hệ thống ngân hàng thương mại chỉ là 156.000 tỷ đồng.

Tín dụng tăng nhanh trong bối cảnh dòng tiền bị rút khỏi hệ thống do thặng dư ngân sách nhà nước lớn, trong khi Ngân hàng Nhà nước ưu tiên kiểm soát tỷ giá thông qua điều tiết thanh khoản trên thị trường mở.

Số liệu từ Ngân hàng Nhà nước cũng cho thấy, nhà điều hành đang kiểm soát quy mô kênh cầm cố, qua kênh nghiệp vụ thị trường mở (OMO) lưu hành chỉ khoảng 300.000 tỷ đồng, giảm mạnh so với mức gần 500.000 tỷ đồng hồi đầu tháng 2, cho thấy quan điểm điều hành ưu tiên bảo vệ tỷ giá, thay vì nới thanh khoản cho hệ thống.

Cùng với đó, việc loại bỏ 20% còn lại của tiền gửi Kho bạc Nhà nước có kỳ hạn tại các ngân hàng thương mại trước khi Thông tư số 08/2026/TT-NHNN có hiệu lực đã đẩy tỷ lệ cho vay so với tổng tiền gửi (LDR) của nhiều ngân hàng, đặc biệt là các ngân hàng thương mại lớn, lên sát mức tối đa.

“Qua đó, mặt bằng lãi suất gia tăng đáng kể và kéo tỷ lệ CASA (tiền gửi không kỳ hạn) toàn thị trường giảm 1,6 điểm phần trăm theo quý xuống xuống 20,8% - thấp hơn mức đáy hồi năm 2022” - nhóm phân tích VDSC nhận định.

Áp lực thanh khoản ngân hàng vẫn khó hạ nhiệt

Tốc độ tăng trưởng huy động cũng phân hóa mạnh trước diễn biến tăng lãi suất, khi chỉ một số ít ngân hàng chấp nhận chi phí huy động cao ghi nhận mức tăng trưởng tốt hơn bình quân ngành, trong đó HDBank và VPBank dẫn đầu với mức tăng lần lượt 12,1% và 11,7% từ đầu năm.

Theo nhóm phân tích VDSC, áp lực thanh khoản được kỳ vọng có thể hạ nhiệt trong nửa cuối năm 2026, nếu giải ngân đầu tư công tăng tốc mạnh hơn, đây là tín hiệu quan trọng để đánh giá thời điểm áp lực chi phí vốn của các ngân hàng bắt đầu dịu lại./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

VDSC: Mặt bằng lãi suất khó hạ nhiệt trong 3 tháng tới

Dù thị trường đang đặt cược khoảng 50% khả năng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) sẽ tăng lãi suất vào cuối năm, nhưng Chứng khoán Rồng Việt (VDSC) cho rằng, kịch bản này khó xảy ra và mặt bằng lãi suất tại Việt Nam khó hạ nhiệt trong 3 tháng tới, do áp lực tỷ giá, mức chênh lệch hoán đổi VND - USD vẫn cao và nguồn tiền gửi Kho bạc hỗ trợ thanh khoản khá hạn chế.

Thị trường tiền tệ tuần 25 - 29/5: Hơn 30.700 tỷ đồng được bơm ròng ra thị trường, lãi suất liên ngân hàng áp sát 8%

Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần cuối cùng tháng 5/2026 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước đảo chiều bơm ròng 30.732,83 tỷ đồng qua kênh OMO sau hai tuần hút thanh khoản liên tiếp. Trong khi lãi suất liên ngân hàng tăng mạnh ở nhiều kỳ hạn, áp sát 8% và lên cao nhất từ đầu tháng 4/2026, tỷ giá USD/VND có dấu hiệu ổn định hơn, còn USD tự do giảm 140 đồng tuần qua.

Thị trường tiền tệ tuần 18 - 22/5: Bơm ròng 8.000 tỷ đồng, lãi suất liên ngân hàng dự báo duy trì vùng cân bằng 6%

Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 18 - 22/5 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng khoảng 8.000 tỷ đồng qua kênh OMO trong bối cảnh lãi suất liên ngân hàng duy trì quanh vùng 6% - mức được xem là đủ để hỗ trợ tỷ giá nhưng chưa tạo áp lực lớn lên lãi suất huy động. Trong khi đó, tỷ giá trung tâm tăng chậm lại, song áp lực từ đồng USD quốc tế neo cao vẫn hiện hữu.

Vẫn xuất hiện ngân hàng tăng lãi suất huy động, Ngân hàng Nhà nước yêu cầu siết kiểm tra

Ngân hàng Nhà nước chỉ rõ vẫn còn hiện tượng một số ngân hàng thương mại thực hiện điều chỉnh tăng lãi suất. Vì vậy, Ngân hàng Nhà nước vừa yêu cầu Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tại các khu vực tăng cường kiểm tra giảm mặt bằng lãi suất tại địa bàn. Trường hợp phát hiện vi phạm, xử lý theo thẩm quyền và báo cáo ngay về Ngân hàng Nhà nước.

Tỷ giá USD hôm nay (22/5): Tỷ giá trung tâm lùi nhẹ, USD giữ đà tăng khi Fed đối mặt áp lực từ lãi suất thực âm

Sáng ngày 22/5, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm phiên cuối tuần ở mức 25.134 đồng, giảm 1 đồng so với phiên trước, trong khi chỉ số DXY tăng 0,04% lên 99,24 điểm. Đồng USD tiếp tục được hỗ trợ khi lãi suất thực tại Mỹ lần đầu rơi vào vùng âm sau 03 năm, gia tăng kỳ vọng Fed sẽ duy trì chính sách tiền tệ thắt chặt lâu hơn.

Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 5/2026

Mặt bằng lãi suất huy động đã đồng loạt hạ nhiệt sau chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước, nhưng đà giảm đang có dấu hiệu chững lại sau khoảng 01 tháng gần đây. Hiện Agribank dẫn đầu nhóm “big 4” về lãi suất huy động kỳ hạn ngắn, trong khi MB nổi bật ở kỳ hạn dài 24 tháng. Các ngân hàng vẫn duy trì lãi suất tiền gửi online ở vùng cao sau khi cộng thêm lãi suất hấp dẫn.

Chênh lệch tín dụng - huy động lên 1,4 triệu tỷ đồng, áp lực LDR bớt căng khi tính 20% tiền gửi Kho bạc

Nhóm phân tích MBS đánh giá, chênh lệch giữa tín dụng và huy động của hệ thống đã tăng lên khoảng 1,4 triệu tỷ đồng vào tháng 4/2026, tương đương 7,22% dư nợ, gây áp lực lên tỷ lệ LDR. Thông tư 08/2026/TT-NHNN được kỳ vọng giúp các ngân hàng quốc doanh giảm tỷ lệ LDR khoảng 1,1 - 1,5% và bổ sung thêm dư địa cho vay tương đương 0,3 - 0,4% tổng dư nợ toàn hệ thống.

Tỷ giá USD hôm nay (16/5): USD mạnh lên đẩy DXY lên đỉnh 5 tuần, EUR và GBP đồng loạt lao dốc

Sáng ngày 16/5, tỷ giá trung tâm chốt tuần ở mức 25.131 đồng, cao nhất trong khoảng 4 tháng và ghi nhận tuần tăng mạnh nhất gần hai tháng qua. Trong khi USD tự do giảm nhẹ về quanh 26.360 - 26.390 VND/USD, tương đương mặt bằng ngân hàng thương mại; nhiều nhà băng đồng loạt hạ tỷ giá EUR và GBP. Chỉ số DXY chốt tuần tại 99,3 điểm, tăng mạnh 1,43% và lên mức cao nhất trong 5 tuần gần đây.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0,20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80