Cục Hàng không Việt Nam đề xuất tăng giá một số dịch vụ hàng không

Cảng hàng không quốc tế Nội Bài. Ảnh: Cảnh Dương
Theo Cục Hàng không Việt Nam, mức giá dịch vụ hạ - cất cánh tàu bay đối với các chuyến bay nội địa đã được duy trì trong vòng 5 năm (từ 1/12/2011 đến nay) và so với bình quân khu vực ASEAN, giá dịch vụ hạ - cất cánh tàu bay với các chuyến bay nội địa của Việt Nam là khá thấp, chỉ bằng từ 47% đến 68% tùy loại tàu bay.
Còn báo cáo của Tổng công ty Cảng hàng không Việt Nam (ACV) cho biết, để đảm bảo doanh thu về dịch vụ hạ, cất cánh tàu bay đối với các chuyến bay nội địa đủ bù đắp chi phí cung cấp dịch vụ tương ứng (hòa vốn) thì mức giá dịch vụ hạ - cất cánh tàu bay đối với các chuyến bay nội địa cần được điều chỉnh tăng 225%, so với mức giá hiện tại. Còn để ACV đạt tỷ suất lợi nhuận 10% thì mức giá dịch vụ hạ - cất cánh tàu bay đối với các chuyến bay nội địa cần được điều chỉnh tăng 258% so với mức giá hiện tại.
Hơn nữa, khu bay chuyển giao lại cho Nhà nước. Việc duy tu, bảo dưỡng, sửa chữa, nâng cấp, đầu tư mới đường băng, đường lăn... của 21 cảng hàng không sẽ do Nhà nước bố trí kinh phí từ nguồn thu liên quan đến cung cấp dịch vụ tại khu bay (thu dịch vụ hạ cất cánh) hoặc từ ngân sách Nhà nước. Do vậy, mức giá dịch vụ hạ cất cánh cần được xem xét, điều chỉnh phù hợp, đảm bảo nguồn thu của Nhà nước, đủ bù đắp chi phí duy tu, bảo dưỡng, sửa chữa, đồng thời có nguồn tích lũy để nâng cấp, đầu tư mới đường băng, đường lăn theo định hướng của Nhà nước trong bối cảnh ngân sách nhà nước hạn chế như hiện nay.
Năm 2016, sản lượng chuyến bay hạ/cất cánh quốc nội bằng 2,4 lần sản lượng chuyến bay hạ/cất cánh quốc tế, đồng thời, tăng trưởng với tốc độ lớn (năm 2016 tăng trưởng hơn 25% so với năm 2015).
"Vì vậy, Cục Hàng không Việt Nam nhận thấy việc quá tải vào các giờ cao điểm tại một số cảng hàng không chủ yếu do sản lượng và tốc độ tăng trưởng quá lớn của chuyến bay quốc nội nên Cục Hàng không Việt Nam đề xuất xây dựng chính sách giá hạ - cất cánh đối với chuyến bay quốc nội theo khung giờ, tác động để các hãng hàng không nội địa điều chỉnh giờ bay, đảm bảo phù hợp với năng lực khai thác của các cảng hàng không”, lãnh đạo Cục Hàng không kiến nghị.
Theo đó, Cục Hàng không đề xuất, đối với các cảng hàng không nhóm A và B, giờ bình thường giá dịch vụ cất hạ cánh đối với chuyến bay nội địa áp dụng mức giá bằng 115% so với giá hiện hành; giờ cao điểm áp dụng mức giá bằng 115% mức giá đối với khung giờ bình thường.
Tuy nhiên, để hạn chế ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các hãng hàng không, Cục Hàng không Việt Nam đề xuất lộ trình điều chỉnh một số giá dịch vụ. Trong đó, giá dịch vụ hạ, cất cánh đối với chuyến bay quốc nội: Giai đoạn 1 (áp dụng từ ngày 1/7/2017), tăng 5% giá dịch vụ hạ, cất cánh tàu bay đối với chuyến bay quốc nội; Giai đoạn 2 (áp dụng từ ngày 1/1/2018), tiếp tục tăng thêm 10% giá dịch vụ hạ, cất cánh tàu bay đến đối với chuyến bay quốc nội.
Cụ thể, mức giá cất hạ cánh áp dụng đối với các chuyến bay nội địa tại các sân bay nhóm A và B được Cục Hàng không Việt Nam đề xuất: Trong khung giờ bình thường (giai đoạn 1) là 698.000 đồng/lần cho máy bay trọng tải cất cánh tối đa dưới 20 tấn, và cao nhất là hơn 10,5 triệu đồng/lần cho máy bay cất hạ cánh có trọng tải từ 250 tấn trở lên.
Từ giai đoạn 2, giá sẽ tăng lên, với máy bay cất/hạ cánh có tải trọng tối đa dưới 20 tấn là 765.000 đồng/lượt, cao nhất đối với máy bay cất/hạ cánh có tải trọng đối đa 250 tấn trở lên là hơn 11,6 triệu đồng. Vào khung giờ cao điểm, giá dịch vụ cất hạ cánh sẽ thu bằng 115% giá dịch vụ cất hạ cánh khung giờ bình thường.
Đối với giá dịch vụ sân đậu tàu bay đối với chuyến bay tại sân bay căn cứ của nhà khai thác tàu bay tại Việt Nam: Giai đoạn 1 (từ ngày 1/7/2017), áp dụng giá dịch vụ sân đậu tại cảng hàng không căn cứ thu bằng 30% mức thu theo giờ đối với chuyến bay quốc nội tương ứng; Giai đoạn 2 (từ ngày 1/1/2018), áp dụng giá dịch vụ sân đậu tại cảng hàng không căn cứ thu bằng 50% mức thu theo giờ đối với chuyến bay quốc nội tại tương ứng.
Ngoài việc tăng giá trực tiếp đánh vào các nhà khai thác hàng không thì Cục Hàng không Việt Nam cũng kiến nghị tăng một số dịch vụ đối với hành khách (nhà khai thác thu hộ).
Trong đó, giá dịch vụ bảo đảm an ninh hành khách, hành lý, đối với hành khách, hành lý quốc tế là 2 USD/hành khách; đối với hành khách, hành lý quốc nội là 18.181 đồng/hành khách. Giá dịch vụ phục vụ hành khách tại cảng hàng không đối với hành khách đi chuyến bay quốc tế tại sân bay Nội Bài là 25 USD/người, Tân Sơn Nhất là 20 USD/người, Phú Quốc là 18 USD/người, Cần Thơ là 16 USD/người…; đối với hành khách đi chuyến bay nội địa tại cảng hàng không nhóm A là xấp xỉ 91.000 đồng/người, các sân bay nhóm B xấp xỉ 73.000 đồng/người…/.
Trí Dũng
Dành cho bạn
Đọc thêm
Quảng Ninh khơi thông nguồn vốn, tiếp sức doanh nghiệp bứt phá
TP. Hồ Chí Minh tăng cường kiểm soát thị trường xăng dầu, xử lý nghiêm hành vi găm hàng
Vinfast thu về 3,6 tỷ USD doanh thu trong năm 2025
Dệt may Thành Công đặt mục tiêu doanh thu gần 4.400 tỷ đồng trong năm 2026
Cấp phép xuất nhập khẩu hóa chất kiểm soát đặc biệt qua Cổng dịch vụ công quốc gia
Chủ động nguyên liệu cho xăng sinh học E10: Cần chính sách dài hạn và và chuỗi cung ứng bền vững


