Dệt may đặt mục tiêu xuất khẩu khoảng 34 tỷ USD năm 2018
Xuất khẩu tăng 13,35%
Tại buổi họp báo thông báo tình hình sản xuất, kinh doanh, xuất nhập khẩu quý I/2018 của ngành dệt may do VITAS tổ chức ngày 17/4, ông Trương Văn Cẩm – Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký VITAS cho biết, ngay từ quý đầu tiên của năm 2018, ngành dệt may đã đạt được những kết quả rất tích cực.
Cụ thể, tổng kim ngạch XK hàng dệt may quý I/2018 ước đạt 7,62 tỷ USD, tăng 13,35% so với cùng kỳ năm ngoái (cao hơn so với tốc độ tăng 11,9% của cùng kỳ năm 2017), hoàn thành 22,4% kế hoạch XK của cả năm 2018.
Trong đó, riêng mặt hàng may mặc đạt 5,98 tỷ USD, tăng 12,49%, tăng khá so với mức 9,7% của quý I/2017. Đồng thời là sự phát triển đa dạng các mặt hàng XK, ngoài các mặt hàng dệt may truyền thống thì các mặt hàng có giá trị gia tăng cao như vải, xơ sợi, vải địa kỹ thuật, phụ liệu dệt may cũng có sự tăng trưởng rất tốt. Đơn cử, XK vải đạt 335 triệu USD (tăng 20,5%), XK xơ sợi đạt 906 triệu USD (tăng 16,5%), XK nguyên phụ liệu đạt 272 triệu USD (tăng 16,68%)….
| |
| Toàn cảnh họp báo. Ảnh: Thiện Trần |
Tổng kim ngạch nhập khẩu nguyên phụ liệu dệt may quý I/2018 ước đạt 4,6 tỷ USD, tăng 22,82% so với cùng kỳ năm 2017. Giá trị thặng dư thương mại đạt 3,87 tỷ USD, tăng 3,69% so với cùng kỳ năm ngoái.
Về thị trường XK, những thị trường XK trọng điểm như Mỹ, các nước khối Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Liên minh châu Âu (EU), Hàn Quốc, Trung Quốc, ASEAN… đều tăng mạnh, tốc độ tăng vượt trội so với cùng kỳ năm 2017. Bên cạnh đó, các mặt hàng XK cũng đa dạng như áo thun, quần, áo jacket, váy, quần áo trẻ em…, trong đó, các mặt hàng XK bứt phá mạnh trong quý I/2018 là áo thun, áo jacket, áo sơ mi.
Nhận định về nguyên nhân của kết quả sản xuất, kinh doanh tích cực trên, theo ông Nguyễn Văn Cẩm là do tình hình kinh tế trong nước tiếp tục duy trì ổn định về kinh tế vĩ mô, lãi suất vay hợp lý, chính sách tỷ giá linh hoạt… Bên cạnh đó, các điều kiện kinh doanh trong các lĩnh vực sản xuất của Việt Nam, trong đó có ngành dệt may tiếp tục cải thiện mạnh đã tác động tích cực đến sự phát triển của ngành dệt may.
Về mục tiêu phát triển của ngành năm 2018, ông Cẩm cho biết, cả năm 2018 toàn ngành dệt may Việt Nam đặt kế hoạch XK 34 – 34,5 tỷ USD. “Hiện nhiều DN đã nhận được đơn hàng đến hết quý III/2018, trên cơ sở đó, dự kiến việc hoàn thành mục tiêu XK đã đặt ra là rất khả quan” - ông Cẩm chia sẻ.
Doanh nghiệp cần chủ động để thoát “kiếp gia công”
Liên quan đến đánh giá những lợi thế và khó khăn của dệt may Việt Nam trong bối cảnh hội nhập hiện nay, ông Trương Văn Cẩm cho biết, về lợi thế, Việt Nam được đánh giá là một trong những nước có tốc độ hội nhập nhanh nhất thế giới, thể hiện thông qua việc tham gia rất nhiều hiệp định thương mại tự do (FTA) lớn trong khu vực và trên thế giới. Theo đó, quá trình hội nhập đã tạo ra thị trường mới rộng lớn cho các ngành kinh tế Việt Nam, trong đó ngành dệt may là một trong những ngành được hưởng lợi nhiều nhất, do hầu hết các dòng thuế của sản phẩm dệt may đều được giảm ngay hoặc giảm theo lộ trình về 0%.
Bên cạnh đó, mặc dù nhân công giá rẻ đã không còn đóng vai trò quyết định, song giá nhân công của Việt Nam vẫn tương đối thấp hơn so với nhiều nước như Trung Quốc, Indonesia, Thái Lan… cũng là một lợi thế trong cạnh tranh. Ngoài ra, sự gia tăng dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành dệt may đã và đang làm thay đổi cơ cấu và diện mạo của ngành…
Bên cạnh những lợi thế, theo ông Trương Văn Cẩm, ngành dệt may Việt Nam cũng đứng trước những thách thức rất lớn trong bối cảnh hội nhập. Cụ thể như: phát triển mất cân đối, trong đó khâu yếu nhất là thượng nguồn (kéo sợi, dệt vải, nhuộm hoàn tất); may XK chủ yếu theo phương thức gia công; thiếu nhân lực chất lượng cao cho các khâu xơ, dệt nhuộm, thiết kế; năng suất lao động thấp…
“Đặc biệt, các FTA phần lớn áp dụng quy tắc xuất xứ (ví dụ trong CPTPP là từ sợi, FTA giữa Việt Nam – EU từ vải…), trong khi dệt may Việt Nam nhập khẩu đến 80% nguyên phụ liệu. Thách thức này khiến ngành dệt may Việt Nam không dễ được hưởng những ưu đãi về thuế quan từ các FTA” - ông Cẩm nhấn mạnh.
Trước thực trạng trên, theo ông Nguyễn Văn Cẩm, để có thể trụ vững và phát triển trong bối cảnh hội nhập, ngành dệt may Việt Nam cần tập trung đầu tư để tái cơ cấu trong nội bộ ngành, đón bắt cơ hội của cách mạng 4.0, áp dụng công nghệ tiên tiến để cân đối dần các khâu từ sợi, dệt, nhuộm đến may mặc và nâng cao năng suất, chất lượng, đẳng cấp sản phẩm.
Bên cạnh đó, các DN trong nước cần tăng cường hợp tác, liên doanh, liên kết với nhau; liên kết giữa DN trong nước và DN đầu tư nước ngoài, giữa DN sản xuất nguyên liệu, phụ liệu và may, hình thành chuỗi liên kết tại mỗi vùng, miền…
Đặc biệt, các DN cần đề ra những chiến lược để từng bước nâng cao tỷ lệ nội địa hóa và khả năng chủ động về nguyên liệu cho may XK, chuyển dần phương thức OEM (gia công) sang FOB (tự chủ nguyên liệu) và ODM (tự thiết kế, sản xuất). Đồng thời, tập trung phát triển nguồn nhân lực, nhất là nhân lực trình độ cao trong các khâu quản lý sản xuất, kỹ thuật, thiết kế thời trang, marketing…./.
Diệu Thiện
Dành cho bạn
Đọc thêm
Quảng Ninh khơi thông nguồn vốn, tiếp sức doanh nghiệp bứt phá
TP. Hồ Chí Minh tăng cường kiểm soát thị trường xăng dầu, xử lý nghiêm hành vi găm hàng
Vinfast thu về 3,6 tỷ USD doanh thu trong năm 2025
Dệt may Thành Công đặt mục tiêu doanh thu gần 4.400 tỷ đồng trong năm 2026
Cấp phép xuất nhập khẩu hóa chất kiểm soát đặc biệt qua Cổng dịch vụ công quốc gia
Chủ động nguyên liệu cho xăng sinh học E10: Cần chính sách dài hạn và và chuỗi cung ứng bền vững


