Giải pháp cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia
Đồng chí Nguyễn Tấn Dũng, Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ điều hành phiên thảo luận.
Tận dụng thời cơ, vượt qua thách thức trong hội nhập
|
| Đồng chí Phạm Bình Minh, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao |
Báo cáo tham luận về vấn đề “Đưa quá trình hội nhập quốc tế vào chiều sâu phục vụ hiệu quả sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa nâng cao vị thế quốc tế của Việt Nam”, Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Bình Minh cho biết, 5 năm qua, Việt Nam đạt được nhiều kết quả quan trọng, song mới ở giai đoạn “gia nhập, tham gia, đàm phán” ký kết các thoả thuận quốc tế, khu vực.
5 năm tới là thời kỳ Việt Nam thực hiện đầy đủ các cam kết trong Cộng đồng ASEAN, của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), thực hiện các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, hội nhập quốc tế với tầm mức sâu hơn nhiều so với giai đoạn trước.
“Điều này đòi hỏi Đảng, Nhà nước và nhân dân ta phải nỗ lực rất cao để tận dụng thời cơ, vượt qua những thách thức lớn trong quá trình hội nhập”, Phó Thủ tướng nhấn mạnh.
Theo đó, để đưa hội nhập quốc tế đi vào chiều sâu, trên cơ sở quán triệt và thực hiện đúng các quan điểm về hội nhập quốc tế được nêu trong Dự thảo văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XII, Phó Thủ tướng Phạm Bình Minh đề xuất: Cần thực hiện triệt để phương châm “triển khai đồng bộ” các định hướng đối ngoại được Đại hội XII của Đảng thông qua
Bên cạnh đó, trên cơ sở bảo đảm lợi ích tối cao của quốc gia – dân tộc, cần đẩy mạnh và làm sâu sắc hơn quan hệ đối tác, nhất là các khuôn khổ đối tác chiến lược, đối tác toàn diện, đảm bảo môi trường hoà bình, ổn định cho đất nước, thúc đẩy quan hệ chính trị, kinh tế, thương mại, đầu tư, khoa học, công nghệ tạo thuận lợi cho phát triển đất nước và quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam.
Đặc biệt, cần nâng cao hiệu quả hội nhập, thực hiện đầy đủ các cam kết quốc tế; triển khai các định hướng lớn về hội nhập được nêu trong Văn kiện Đại hội, tập trung thực hiện Chiến lược tổng thể hội nhập quốc tế đến 2020, tầm nhìn 2030...
5 trở ngại trong nâng cao năng lực cạnh tranh toàn cầu
|
| Đồng chí Phạm Xuân Đương, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng ban Thường trực Ban Kinh tế Trung ương trình bày tham luận tại Đại hội. |
Báo cáo tham luận “Nâng cao năng lực cạnh tranh Quốc gia trong bối cảnh hội nhập quốc tế”, đồng chí Phạm Xuân Đương, Ủy viên Trung ương Đảng khóa XI, Phó Trưởng ban Thường trực Ban Kinh tế Trung ương cho biết, vấn đề nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia đã được đề cập nhất quán trong các chủ trương, chính sách của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước.
Qua 30 năm đổi mới, năng lực cạnh tranh của Việt Nam có thay đổi và được cải thiện dần nhưng so với thế giới và kể cả khu vực ASEAN vẫn còn ở mức thấp. Theo báo cáo Năng lực cạnh tranh toàn cầu CGI, năm 2015, Việt Nam có thứ hạng 56/140 nền kinh tế, đạt 4,3/7 điểm, tăng 12 bậc so với năm 2014 và là thứ hạng cao nhất của Việt Nam giai đoạn 2006 - 2015.
Tuy nhiên, trong ASEAN, ngoại trừ Singapore, Malaisia, Thái Lan và Brunei có điểm số đạt trên 4,5, thứ hạng năm 2015 của Việt Nam chỉ cao hơn các nước còn lại trong ASEAN-4 (Lào, Mianma, Campuchia, Việt Nam). Có 7/12 lĩnh vực mà Việt Nam thậm chí còn đứng sau một vài nước ASEAN-4 về thứ hạng toàn cầu. Khả năng theo kịp các nước ASEAN-6 còn xa, trong khi nguy cơ bị các nước ASEAN-4 vượt qua cũng là một thách thức.
Theo Phó Trưởng ban Thường trực Ban Kinh tế Trung ương, năng lực cạnh tranh toàn cầu 2015-2016 đã chỉ ra 5 nhóm vấn đề được coi là trở ngại lớn nhất đối với Việt Nam, gồm: ”Tiếp cận tài chính”, "Chính sách không ổn định”, "Lao động qua đào tạo không đủ”, "Kỷ luật lao động kém” và ”Tham nhũng”.
Qua phân tích các bộ chỉ số, Phó Trưởng ban Thường trực Ban Kinh tế Trung ương cho rằng, một số nhóm nhân tố cần phải tập trung phân tích, đánh giá và có giải pháp để cải thiện môi trường kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia của Việt Nam:
Một là, nhóm các nhân tố về thể chế kinh tế và thực thi thể chế kinh tế, gồm: Các quy định pháp luật và thực thi pháp luật trong kinh doanh và cạnh tranh; vấn đề cải cách tư pháp; phòng, chống tham nhũng, cải cách hành chính công.
Hai là, nhóm các vấn đề kinh tế vĩ mô, gồm: Tính bền vững môi trường kinh tế vĩ mô; thực trạng về năng suất các yếu tố tổng hợp (TFP) trong mô hình tăng trưởng của Việt Nam.
Ba là, nhóm các vấn đề tiếp cận nguồn lực và thị trường, gồm: Phát triển các nguồn lực cơ bản phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của DN; phát triển các yếu tố thị trường và các loại thị trường; năng lực hội nhập kinh tế quốc tế.
Bốn là, nhóm các vấn đề về phát triển DN và khởi nghiệp.
Năm là, nhóm các vấn đề liên quan đến lĩnh vực an ninh, an toàn cũng như các yếu tố xã hội như y tế và giáo dục.
Người nông dân phải là chủ thể của quá trình sản xuất nông nghiệp
|
| Đồng chí Nguyễn Quốc Cường, Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam trình bày tham luận tại Đại hội. |
Báo cáo tham luận về “Xây dựng giai cấp nông dân Việt Nam vững mạnh trong khối đại đoàn kết dân tộc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, đồng chí Nguyễn Quốc Cường, Uỷ viên Trung ương Đảng khóa XI, Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam cho biết: Sau 30 năm thực hiện đổi mới và hội nhập thế giới, trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, Đảng, Nhà nước đã có nhiều chủ trương, nghị quyết, những chính sách lớn phát triển nông nghiệp, nông thôn, nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho nông dân.
“Cấp ủy, chính quyền các cấp từ Trung ương đến địa phương đã có nhiều giải pháp lãnh đạo, chỉ đạo, cụ thể hóa thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng để phát triển nông nghiệp, nông thôn và cải thiện đời sống nông dân”, đồng chí Nguyễn Quốc Cường nhấn mạnh.
Tuy nhiên, so với yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội, yêu cầu xây dựng mẫu hình người nông dân mới, xây dựng giai cấp nông dân vững mạnh và xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, thì vai trò, vị trí của nông dân, nông thôn đang cảnh báo có những nguy cơ như: Về địa vị, vai trò kinh tế của nông dân, nông thôn đang có biểu hiện giảm sút trong quá trình CNH - HĐH và đô thị hóa. Không ít bộ, ngành và địa phương còn coi nông dân, nông nghiệp là "sân sau của công nghiệp, doanh nghiệp” nên việc đầu tư xã hội phát triển nông nghiệp giảm sút mạnh từ 32,4% của những năm 1989-1990 xuống còn 14,2% những năm 2005-2010 và chỉ còn 6,12% đến 6,06% những năm 2012 – 2014. Khoa học kỹ thuật nông nghiệp vẫn khó “thâm nhập vào nông dân"...
Theo đó, để đạt được mục tiêu đề ra, đồng chí Nguyễn Quốc Cường kiến nghị 8 nhóm giải pháp. Cụ thể, tiếp tục cụ thể hóa chương trình, nội dung trung hạn, dài hạn xây dựng giai cấp nông dân gắn liền với phát triển nông nghiệp, kinh tế nông thôn, xây dựng nông thôn mới. Trong đó trọng điểm là đến năm 2020, phải nâng mức thu nhập của nông dân lên gấp 2,5 lần so với năm 2008 và tăng dần vào những năm tiếp theo.
Bên cạnh đó, cần đầu tư cho “tam nông”; tái cơ cấu nông nghiệp chú trọng rà soát, điều chỉnh quy hoạch tổng thể ngành, hàng sản xuất theo thế mạnh của vùng miền, địa phương; tập trung giải quyết khó khăn, tạo sức bật cho nông nghiệp, nông dân, nông thôn..., để xây dựng giai cấp nông dân Việt Nam vững mạnh, phù hợp với yêu cầu của tình hình mới./.
Hồng Chi
