Hơn 24 tỷ USD vốn lưu động tồn đọng trong doanh nghiệp

Ảnh: T.L
Đây là một trong những kết quả được trích từ báo cáo nghiên cứu mới nhất có tiêu đề “Tăng trưởng bền vững và khả năng thanh khoản" lần 2 của PwC Việt Nam. Báo cáo đưa ra những phân tích chuyên sâu về tình hình quản lý vốn lưu động của 509 DN lớn nhất tính theo doanh thu, thuộc 15 nhóm ngành khác nhau trong 4 năm gần nhất. Các DN này đã và đang được niêm yết trên Sở Giao dịch chứng khoán TP. Hồ Chí Minh (HOSE) và Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội (HNX) trong suốt 4 năm qua.
Nhận xét về hiệu quả quản lý vốn lưu động ở DN Việt Nam hiện nay, ông Mohammad Mudasser - lãnh đạo Dịch vụ tư vấn quản lý vốn lưu động của PwC Việt Nam, nhấn mạnh: “Hiệu quả sử dụng vốn lưu động đã và đang bị đánh đổi để đạt được tăng trưởng doanh thu. Điều này ảnh hưởng nghiêm trọng tới năng lực hoạt động bền vững của DN. Quản lý vốn lưu động chỉ đạt hiệu quả tối ưu khi có sự phối hợp chặt chẽ giữa các phòng ban và sự ủng hộ từ các cấp lãnh đạo trong việc thiết lập văn hóa tiền mặt cho DN.”
Việc tối ưu hóa quản lý vốn lưu động còn giúp ích trong việc nâng cao thanh khoản, điều vốn được xem là “huyết mạch” của hoạt động DN. Trong những năm gần đây, tình trạng phụ thuộc vào nguồn vốn vay mượn ngày càng phổ biến, trong khi lượng tiền mặt bị tồn đọng trong vốn lưu động ngày một gia tăng.
Theo đánh giá của PwC Việt Nam, các DN Việt Nam trong năm tài chính 2018 ghi nhận suy giảm về hiệu quả sử dụng vốn lưu động so với năm trước; đồng thời còn nhiều hạn chế so với các nước trong khu vực châu Á cũng như so với thế giới về chu kỳ tiền mặt (C2C).
Tốc độ tăng trưởng doanh thu của các DN tại Việt Nam trong giai đoạn năm tài chính 2017 - 2018 ở mức hai con số, đạt 15%. Tuy nhiên, biên lợi nhuận chưa tăng trưởng ở mức tương ứng do kém hiệu quả trong việc quản lý chi phí. Kết quả là, tỷ suất sinh lời trên vốn dài hạn (ROCE) của các DN trong phạm vi nghiên cứu tiếp tục xu hướng suy giảm, riêng trong năm 2018 đã giảm 6,7 điểm phần trăm.
Khoảng 24,1 tỷ USD tiền mặt hiện đang bị tồn đọng trong vốn lưu động thuần của các DN tại Việt Nam. Tổng giá trị cơ hội cải thiện chiếm khoảng 50% vốn lưu động thuần và tương đương với 7% doanh thu của các DN được nghiên cứu. Riêng cơ hội đối với ngành hàng tiêu dùng và ngành kỹ thuật & xây dựng chiếm khoảng một phần ba tổng lượng tiền mặt có thể được giải phóng. Để đạt hiệu quả tối ưu trong việc quản lý vốn lưu động, các DN nên tập trung vào việc quản lý hiệu quả hàng tồn kho cũng như khoản phải thu khách hàng.
Hiệu quả sử dụng vốn lưu động của các DN tại Việt Nam kém hơn đa số các nước thuộc khu vực châu Á cũng như các khu vực và quốc gia phát triển như châu Âu, Mỹ và châu Úc. DN Việt Nam có C2C cao hơn 9 ngày so với trung vị châu Á và cao hơn đến 13 ngày so với Malaysia. Malaysia, với hiệu quả quản lý vốn lưu động tốt thứ hai ở châu Á, đã đạt hiệu quả đáng kể trong việc quản lý hàng tồn kho (DIO thấp hơn 10 ngày) và quản lý khoản phải thu (DSO thấp hơn 8 ngày) so với Việt Nam.
Từ kết quả báo cáo có thể nhận thấy sự khác biệt rõ rệt về hiệu quả thực hiện giữa nhóm DN quản lý tốt và chưa tốt vốn lưu động trong năm qua. Trong khi DN đạt hiệu quả cao liên tục cải thiện kết quả đạt được, cụ thể chu kỳ C2C được rút ngắn đáng kể, thì những DN đạt hiệu quả thấp tiếp tục ghi nhận sự suy giảm. Điều này dẫn đến sự suy giảm tổng thể của C2C cho các DN phân tích.
Nhóm DN này còn ghi nhận hiệu quả tài chính vượt trội về khả năng sinh lời, khả năng thanh toán, tỷ lệ thanh khoản cũng như khả năng tự tài trợ thay vì dựa vào các nguồn tài chính bên ngoài so với nhóm còn lại./.
H.Y
Dành cho bạn
Đọc thêm
Quảng Ninh khơi thông nguồn vốn, tiếp sức doanh nghiệp bứt phá
TP. Hồ Chí Minh tăng cường kiểm soát thị trường xăng dầu, xử lý nghiêm hành vi găm hàng
Vinfast thu về 3,6 tỷ USD doanh thu trong năm 2025
Dệt may Thành Công đặt mục tiêu doanh thu gần 4.400 tỷ đồng trong năm 2026
Cấp phép xuất nhập khẩu hóa chất kiểm soát đặc biệt qua Cổng dịch vụ công quốc gia
Chủ động nguyên liệu cho xăng sinh học E10: Cần chính sách dài hạn và và chuỗi cung ứng bền vững


