Mổ xẻ điểm yếu của hàng nông sản Việt trong cơ hội TPP
Đây là nội dung chính được tập trung trao đổi, thảo luận tại Hội thảo “Xuất khẩu hàng nông sản của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập TPP” do Trường Đại học Ngoại thương Hà Nội tổ chức chiều 26/3, tại Hà Nội.
Nhiều điểm yếu
Ông Trương Đình Tuyển, nguyên Bộ trưởng Bộ Thương mại cho rằng, hiện nông nghiệp là một trong những ngành xuất khẩu chủ lực của Việt Nam, nhiều mặt hàng nông sản của Việt Nam đứng vị trí cao trên bản đồ xuất khẩu của thế giới. Việc Việt Nam tham gia vào Hiệp định Đối tác chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) được kỳ vọng sẽ giúp tạo ra “cú hích” lớn đối với hoạt động xuất khẩu nông sản của Việt Nam, đặc biệt là các mặt hàng như thủy sản, trái cây, cà phê, hồ tiêu, chè… vốn là thế mạnh của nông sản Việt Nam.
Tuy nhiên, cũng theo ông Tuyển, những lợi thế từ việc cắt giảm thuế quan theo các cam kết hội nhập chỉ là chất xúc tác để kích thích xuất khẩu, thậm chí không dễ để ngành nông nghiệp Việt Nam có thể tận dụng được những lợi thế về thuế quan để gia tăng xuất khẩu khi hội nhập.
Bởi, theo ông Tuyển, điểm yếu nhất của sản phẩm nông sản Việt là chất lượng chưa cao, đặc biệt các tiêu chí về đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm còn rất hạn chế. Trong khi đó, khi TPP có hiệu lực, hàng rào phi thuế quan sẽ trở nên phổ biến hơn, các yêu cầu về chất lượng sản phẩm, truy xuất nguồn gốc… cũng khắt khe hơn. Thực tế cho thấy, trong thời gian vừa qua, hàng nông sản của Việt Nam gặp rất nhiều khó khăn trong việc tiếp cận thị trường thế giới do vướng phải hàng rào kỹ thuật thương mại và biện pháp vệ sinh dịch tễ.
Ngay tại thị trường trong nước, khi thu nhập và nhận thức của người tiêu dùng tăng lên, việc lựa chọn sản phẩm an toàn cho sức khỏe sẽ được quan tâm hơn. Nếu không chú trọng đến vấn đề an toàn vệ sinh thực phẩm và truy xuất nguồn gốc, nông sản Việt Nam thậm chí còn không tiêu thụ được ngay tại thị trường nội địa, cũng như không thể cạnh tranh được với hàng nhập khẩu tràn vào từ lợi thế cắt giảm thuế.
“Hiện nay thịt bò Mỹ, Úc còn đắt so với thu nhập của người Việt thì người dân còn dè dặt khi mua bán, nhưng tới đây khi thuế suất giảm xuống thịt bò của các nước nhập vào sẽ rất rẻ, nếu sản phẩm của Việt Nam không đảm bảo chất lượng hay còn có những hiện tượng như thịt lợn “đội lốt” thịt bò… thì chắc chắn người tiêu dùng sẽ tẩy chay, chuyển sang dùng hàng ngoại”, ông Tuyển đưa ví dụ.
| |
| Các đại biểu, chuyên gia trao đổi tại hội thảo. Ảnh: Diệu Thiện |
Đồng quan điểm, ông Trần Thanh Hải, Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu, Bộ Công thương bổ sung thêm, điểm yếu nữa của nền sản xuất nông nghiệp Việt Nam là thiếu tính bền vững, giá trị gia tăng thấp. “Kim ngạch xuất khẩu nông sản của Việt Nam luôn gia tăng nhưng chủ yếu là gia tăng về số lượng, còn giá trị gia tăng rất thấp, không tạo ra được những mặt hàng mang thương hiệu quốc tế. Đơn cử, Việt Nam xuất khẩu cà phê đứng thứ hai trên thế giới (chỉ đứng sau Brazil), nhưng những thương hiệu như Trung Nguyên, Vinacafe thì vẫn chưa được biết đến nhiều trên thị trường cà phê thế giới”, ông Hải nói.
Cần khuyến khích doanh nghiệp “làm nông”
Ông Nguyễn Đỗ Anh Tuấn, Viện trưởng Viện Chính sách và chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho biết, nông nghiệp Việt Nam được xem là có nhiều tiềm năng, nhưng nhà đầu tư, doanh nghiệp (DN) vẫn thờ ơ với khu vực này. Điều này khiến tính chất sản xuất của nền nông nghiệp Việt Nam vẫn là nền sản xuất nhỏ lẻ, manh mún, chủ yếu quy mô hộ gia đình. Việt Nam có hơn 500.000 DN, nhưng chỉ có khoảng 3.500 DN nông nghiệp, chiếm 1,01% tổng số DN và hầu hết là DN nhỏ. Các DN có vốn dưới 5 tỷ đồng chiếm tới 65% nên rất khó trong cạnh tranh, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập sâu rộng như hiện nay.
Theo ông Tuyển, một trong những rào cản lớn khiến DN khó đầu tư vào nông nghiệp là việc tìm kiếm diện tích đất đai quy mô lớn để triển khai các dự án về nông nghiệp. Đầu tư vào nông nghiệp cần quỹ đất lớn lên đến cả trăm, nghìn héc ta, nên DN muốn đầu tư vào nông nghiệp rất khó tìm quỹ đất như vậy. Còn nếu tìm được phải bỏ tiền mua hoặc thuê lại đất từ nông dân, tiếp đó là phải trả tiền thuê đất cho nhà nước, tức là DN phải trả ít nhất hai lần tiền để có đất, trong khi đầu tư vào các khu công nghiệp chỉ trả một lần, lại có cơ sở hạ tầng đi kèm để sản xuất kinh doanh.
Bên cạnh đó, lĩnh vực sản xuất nông nghiệp đem lại lợi nhuận thấp, rủi ro cao… trong khi các chính sách để hỗ trợ khuyến khích DN đầu tư vẫn chưa đủ sức hấp dẫn, khiến DN còn e dè, ngần ngại khi đầu tư vào lĩnh vực này.
Theo khuyến nghị của ông Tuyển, muốn nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành nông nghiệp, cần phải tổ chức lại sản xuất, trong đó phải có những cơ chế chính sách để tạo động lực, khuyến khích được nhiều DN, đặc biệt là DN vừa và lớn tham gia vào chuỗi sản xuất nông nghiệp.
“Lâu nay chúng ta lấy nông dân và các nông hộ để làm trọng tâm để phát triển nông nghiệp, nay, phải thay đổi cách làm bằng cách coi DN là đầu tàu, đóng vai trò chủ lực của chuỗi sản xuất sản xuất nông nghiệp, nếu muốn đưa ngành nông nghiệp đi lên”, ông Tuyển nhấn mạnh.
Ông Tuấn cũng chia sẻ, chúng ta luôn đặt vấn đề phải nâng cao chất lượng sản phẩm nông sản, nhưng lại chỉ trông chờ nông dân trồng cây rồi hái quả thì sẽ không có quả tốt. Bởi lẽ, bản thân nông dân không thể có đủ kinh nghiệm cũng như nguồn lực để ứng dụng những tiến bộ khoa học vào sản xuất. Nếu không có vai trò dẫn dắt của DN thì nền sản xuất nông nghiệp của Việt Nam khó có thể đạt được trình độ cao hơn, đủ sức cạnh tranh trong hội nhập./.
Thiện Trần
Dành cho bạn
Đọc thêm
Quảng Ninh khơi thông nguồn vốn, tiếp sức doanh nghiệp bứt phá
TP. Hồ Chí Minh tăng cường kiểm soát thị trường xăng dầu, xử lý nghiêm hành vi găm hàng
Vinfast thu về 3,6 tỷ USD doanh thu trong năm 2025
Dệt may Thành Công đặt mục tiêu doanh thu gần 4.400 tỷ đồng trong năm 2026
Cấp phép xuất nhập khẩu hóa chất kiểm soát đặc biệt qua Cổng dịch vụ công quốc gia
Chủ động nguyên liệu cho xăng sinh học E10: Cần chính sách dài hạn và và chuỗi cung ứng bền vững


