Quy mô doanh nghiệp Việt đang ngày càng nhỏ đi
Đây là chia sẻ của ông Vũ Tiến Lộc, Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) tại diễn đàn "Phát triển doanh nghiệp trong kinh doanh nông nghiệp" và Công bố Báo cáo thường niên doanh nghiệp Việt Nam năm 2014 tổ chức ngày 15/4, tại Hà Nội. Toàn cảnh hội thảo. Ảnh: Diệu Thiện Theo Báo cáo thường niên DN Việt Nam năm 2014 do VCCI công bố, trong giai đoạn 2007-2014, mặc dù chứng kiến sự tăng trưởng mạnh về số lượng DN, số lượng lao động và tổng nguồn vốn, tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng của 3 yếu tố này lại khác nhau dẫn đến sự thay đổi về quy mô DN xét theo tiêu chí lao động và tiêu chí nguồn vốn. Theo đó, số lượng DN tăng mạnh hơn so với số lượng lao động đã dẫn đến sự thu hẹp quy mô DN về lao động. Cụ thể, lao động bình quân trong DN đã giảm từ 49 lao động (năm 2007) xuống chỉ còn 29 lao động (năm 2014), tương ứng với quy mô của một DN nhỏ. Trong đó, giảm mạnh nhất là DN ngoài nhà nước, từ 27 lao động (năm 2007) xuống còn 18 lao động (năm 2014); quy mô lao động của DN nhà nước giảm từ 505 lao động (năm 2007) xuống còn 452 lao động (năm 2014); các DN FDI cũng giảm từ 340 lao động (năm 2007) xuống còn 299 lao động (năm 2014). Sự thu hẹp về quy mô lao động cũng diễn ra trong hầu hết các ngành, rõ nét nhất là trong các ngành thâm dụng lao động như nông-lâm nghiệp- thủy sản, công nghiệp khai mỏ, công nghiệp chế biến, xây dựng, vận tải kho bãi, thông tin truyền thông. Chỉ duy nhất một ngành có quy mô lao động bình quân tăng nhẹ là y tế và hoạt động trợ giúp xã hội. Bên cạnh đó, cũng theo Báo cáo thường niên DN 2014, những vấn đề mà DN Việt Nam gặp phải hiện nay là hiệu suất sử dụng lao động thấp và chậm cải thiện. Hiệu suất sử dụng giảm đi từ 17,3 lần (năm 2007) xuống còn 15,7 lần (năm 2014). Ngoài ra, năng lực tài chính của DN cũng kém đi, tỷ lệ thua lỗ ngày càng cao. Theo kết quả của báo cáo, chỉ số khả năng chi trả lãi vay của DN không cao, chỉ số thanh toán hiện tại của DN có xu hướng giảm từ 5,1 lần (năm 2007) còn 3,2 lần (năm 2014). Đồng thời, năm 2014, tính chung toàn bộ DN, tỷ lệ kinh doanh thua lỗ lên đến 45%. Đại diện cho nhóm làm báo cáo, ông Lương Minh Huân, Viện Phát triển doanh nghiệp (VCCI) cho rằng, nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên là do DN chưa tiếp cận được công nghệ phù hợp, chất lượng sản phẩm chưa đạt yêu cầu, chính sách hỗ trợ chưa đủ mạnh, nguyên liệu sản xuất phụ kiện chủ yếu vẫn phải nhập khẩu, tay nghề công nhân chưa đáp ứng được nhu cầu, giá thành sản xuất linh kiện, phụ kiện cao… “Quy mô của DN càng nhỏ thì càng khó tham gia được vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Đây là một hạn chế rất lớn của DN Việt, đồng thời cũng là một thách thức lớn đối với sự phát triển của nền kinh tế đất nước hiện nay”, ông Huân nhấn mạnh. “Bởi vậy, chính sách liên quan đến DN rất quan trọng. Việt Nam rất cần hệ thống chính sách có thể hỗ trợ cho DN lớn dần lên, trưởng thành lên. Dù hiện tại chúng ta đã có thể kỳ vọng thủ tục hành chính được đơn giản hóa, môi trường kinh doanh thuận lợi, nhưng như thế chưa đủ, mà rất cần chính sách có hệ thống, đồng bộ để có thể hỗ trợ giải quyết vấn đề này”, ông Vũ Tiến Lộc, Chủ tịch VCCI khuyến nghị./.
Thiện Trần
Dành cho bạn
Đọc thêm
Quảng Ninh khơi thông nguồn vốn, tiếp sức doanh nghiệp bứt phá
TP. Hồ Chí Minh tăng cường kiểm soát thị trường xăng dầu, xử lý nghiêm hành vi găm hàng
Vinfast thu về 3,6 tỷ USD doanh thu trong năm 2025
Dệt may Thành Công đặt mục tiêu doanh thu gần 4.400 tỷ đồng trong năm 2026
Cấp phép xuất nhập khẩu hóa chất kiểm soát đặc biệt qua Cổng dịch vụ công quốc gia
Chủ động nguyên liệu cho xăng sinh học E10: Cần chính sách dài hạn và và chuỗi cung ứng bền vững


