Xung đột Trung Đông, kịch bản nào cho lạm phát và tăng trưởng?

Tú Anh
Trao đổi với phóng viên, TS. Nguyễn Đức Độ - Phó Viện trưởng Viện Kinh tế - Tài chính (Học viện Tài chính) phân tích nhiều kịch bản xoay quanh tác động của xung đột Trung Đông với doanh nghiệp và nền kinh tế. Theo ông Độ, nếu căng thẳng chỉ diễn ra trong ngắn hạn, áp lực lạm phát sẽ không quá lớn; ảnh hưởng đến tăng trưởng GDP chủ yếu mang tính tạm thời, trong khi quỹ đạo tăng trưởng dài hạn vẫn phụ thuộc vào các yếu tố nền tảng.
aa

PV: Căng thẳng tại Trung Đông làm dấy lên lo ngại về nguy cơ gián đoạn chuỗi cung ứng và biến động mạnh của giá năng lượng, tương tự giai đoạn xung đột Nga - Ukraine năm 2022 khi giá dầu từng vượt 100 USD/thùng. Theo ông, trong các kịch bản khác nhau của xung đột, mức độ ảnh hưởng đến doanh nghiệp và nền kinh tế trong nước thế nào?

Xung đột Trung Đông, kịch bản nào cho lạm phát và tăng trưởng?
TS. Nguyễn Đức Độ

TS. Nguyễn Đức Độ: Điểm mấu chốt ở chỗ các cuộc tấn công do Mỹ và Israel nhằm vào Iran sẽ kéo dài trong bao lâu. Nếu xung đột chỉ diễn ra trong thời gian ngắn thì tác động mang tính tạm thời và không gây ra quá nhiều vấn đề lớn. Tuy nhiên, nếu kéo dài sẽ phát sinh nhiều hệ lụy phức tạp hơn, nền kinh tế phải quan tâm và tìm cách xử lý.

Iran là một trong những quốc gia sản xuất dầu khí lớn của thế giới, khi xung đột xảy ra, phản ứng đầu tiên là giá dầu tăng. Ngày 2/3, nước này còn tuyên bố đóng cửa eo biển Hormuz - tuyến vận tải chiến lược của dầu khí toàn cầu. Diễn biến này làm gia tăng rủi ro vận tải, kéo theo chi phí logistics, cước vận chuyển và phí bảo hiểm tăng lên, qua đó, đẩy chi phí sản xuất của doanh nghiệp lên cao.

Tuy vậy, giá bán sản phẩm thường khó tăng nhanh theo “cú sốc” chi phí trong ngắn hạn. Vì vậy, lợi nhuận của doanh nghiệp có xu hướng bị thu hẹp trước. Doanh nghiệp xuất khẩu chịu ảnh hưởng rõ nhất, khi chi phí vận chuyển tăng, giá thành hàng hóa tăng, nhưng giá bán chưa kịp điều chỉnh. Trong khi đó, xuất khẩu chiếm tỷ trọng lớn, tương đương 90% GDP Việt Nam năm 2025, nên áp lực này có thể tác động đáng kể đến lợi nhuận doanh nghiệp xuất khẩu.

Bên cạnh đó, tác động từ xung đột địa chính trị cũng sẽ lan sang sản xuất công nghiệp trong nước. Lĩnh vực nông nghiệp cũng có thể bị tác động, khi nhiều mặt hàng liên quan đến dầu mỏ, như phân bón tăng giá, khiến chi phí đầu vào của người nông dân cao hơn.

Trong khi đó, khu vực dịch vụ như: tài chính, du lịch… được đánh giá ít chịu tác động trực tiếp hơn. Tuy vậy, việc giá nhiên liệu tăng có thể khiến giá vé máy bay nhích lên, qua đó, phần nào ảnh hưởng đến nhu cầu du lịch.

Nhìn chung, công nghiệp và xuất khẩu vẫn là những lĩnh vực chịu ảnh hưởng nhất, song mức độ tác động còn phụ thuộc vào việc cú sốc này chỉ diễn ra ngắn hạn, hay kéo dài.

Xung đột Trung Đông, kịch bản nào cho lạm phát và tăng trưởng?
Doanh nghiệp xuất khẩu là lĩnh vực chịu ảnh hưởng nhất khi xung đột tại Trung Đông leo thang. Ảnh: An Thư

PV: Tuần qua, giá dầu Brent và WTI tăng khoảng 16 - 20%, cao nhất trong một năm. Trong khi đó, một doanh nghiệp khí lớn tại Việt Nam cho biết xung đột Trung Đông bắt đầu ảnh hưởng đến nguồn cung LPG (khí hóa lỏng) nhập khẩu. Theo ông, nếu căng thẳng leo thang và nguồn cung năng lượng bị gián đoạn, liệu áp lực lạm phát sẽ gia tăng?

TS. Nguyễn Đức Độ: Đúng là có những lo ngại với nguy cơ gián đoạn nguồn cung. Tuy nhiên, hiện chưa rõ tỷ trọng nhập khẩu xăng dầu hay LPG của Việt Nam từ khu vực Trung Đông bao nhiêu.

Giá dầu từng vượt 100 USD/thùng, lạm phát vẫn trong tầm kiểm soát

"Thực tế, trong những năm gần đây có vài thời điểm giá dầu vượt mốc 100 USD/thùng, nhưng lạm phát tại Việt Nam vẫn được kiểm soát trong phạm vi cho phép. Vấn đề quan trọng là mục tiêu lạm phát được tính theo bình quân cả năm. Nếu "cú sốc" này chỉ diễn ra trong thời gian ngắn, chẳng hạn giá dầu tăng 16 - 20% trong một giai đoạn thì tác động chủ yếu sẽ phản ánh vào CPI của tháng đó. Nhưng nếu chiến sự kết thúc sớm và giá dầu giảm trở lại, ví dụ về quanh mức hơn 60 USD/thùng, thì khi đó tác động lại theo chiều ngược lại, kéo mặt bằng giá xuống".

Về lạm phát, ở kịch bản khả quan, nếu xung đột chỉ diễn ra trong thời gian ngắn thì tác động sẽ không quá lớn. Khi giá xăng dầu tăng, chi phí vận chuyển và sản xuất trong nền kinh tế cũng gia tăng, từ đó, tạo áp lực lan tỏa sang nhiều nhóm hàng hóa và dịch vụ trong rổ tính CPI, đặc biệt là nhóm giao thông; nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng; hàng hóa và dịch vụ ăn uống… Vì vậy, CPI tăng trong ngắn hạn là điều dễ hiểu.

Tuy nhiên, nếu xung đột kéo dài, giá dầu có thể tăng mạnh và duy trì cao trong thời gian dài, từ đó, gây áp lực lên lạm phát. Dù vậy, cũng cần lưu ý rằng khi giá dầu tăng cao và xung đột kéo dài, kinh tế thế giới có thể suy yếu, nhu cầu năng lượng và nguyên vật liệu cũng giảm, qua đó, phần nào kiềm chế đà tăng của giá xăng dầu và các loại hàng hóa khác.

PV: Trong bối cảnh xung đột có thể kéo dài, theo ông, với một nền kinh tế có độ mở lớn như Việt Nam, liệu những cú sốc địa chính trị này có thể ảnh hưởng đến quỹ đạo tăng trưởng, đặc biệt là mục tiêu tăng trưởng GDP trên 10%?

TS. Nguyễn Đức Độ: Quỹ đạo tăng trưởng dài hạn chủ yếu phụ thuộc vào các nguồn lực nội tại của nền kinh tế như: vốn, lao động, công nghệ, cũng như cải cách về thể chế… Những cú sốc bên ngoài như xung đột địa chính trị thường chỉ tác động đến GDP trong ngắn hạn.

Điều đáng lo ngại là nếu xung đột kéo dài khiến kinh tế thế giới suy yếu, khi đó, xuất khẩu của Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng. Tác động thứ nhất đến từ việc tổng cầu của kinh tế toàn cầu tăng chậm lại, thậm chí suy giảm nếu xảy ra suy thoái. Tác động thứ hai về phía tổng cung, khi chi phí sản xuất và chi phí vận tải tăng lên, khiến khu vực xuất khẩu chịu thêm áp lực. Khi xuất khẩu bị ảnh hưởng, khu vực công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp chế biến, chế tạo, cũng chịu tác động rõ rệt.

Ngoài ra, nếu kinh tế thế giới suy yếu thì các ngành dịch vụ như du lịch có thể bị ảnh hưởng. Việt Nam là nền kinh tế có độ mở lớn, nên nếu xung đột kéo dài thì mục tiêu tăng trưởng khoảng 10% sẽ đối mặt với nhiều thách thức hơn.

Đối với chính sách tiền tệ của Việt Nam và các nước, xu hướng hiện nay vẫn là nới lỏng để hỗ trợ kinh tế. Tuy nhiên, tốc độ nới lỏng phụ thuộc khá nhiều vào diễn biến lạm phát trong ngắn hạn. Nếu xung đột khiến giá cả tăng lên, các ngân hàng trung ương có thể chậm nới lỏng tiền tệ. Dù vậy, khả năng phải quay lại thắt chặt tiền tệ mạnh để kiểm soát lạm phát là không cao.

PV: Chính sách điều hành vĩ mô của Việt Nam nên ứng phó ra sao để tăng sức chống chịu của doanh nghiệp, nền kinh tế trước các cú sốc địa chính trị kéo dài, thưa ông?

TS. Nguyễn Đức Độ: Tùy từng hoàn cảnh mà cơ quan điều hành sẽ có những biện pháp ứng phó phù hợp. Chẳng hạn, khi giá dầu tăng mạnh, trước mắt có thể sử dụng Quỹ bình ổn xăng dầu để giảm bớt “cú sốc” giá. Vài năm gần đây, do giá dầu tương đối thấp và ổn định nên quỹ không phải sử dụng nhiều. Vì vậy, trong các kỳ điều hành sắp tới có thể trích một phần từ quỹ, giúp thị trường không biến động quá mạnh.

Nếu tình trạng giá dầu tăng kéo dài và nguồn lực từ quỹ dần cạn, Nhà nước có thể cân nhắc các biện pháp hỗ trợ khác như điều chỉnh chính sách thuế với xăng dầu đã từng thực hiện.

Bên cạnh đó, để đảm bảo thị trường xăng dầu vận hành ổn định và nguồn cung không bị gián đoạn, phải tính đến sự cân bằng lợi ích giữa nhà nước, người dân và doanh nghiệp. Các doanh nghiệp đầu mối có trách nhiệm nhập khẩu và cung ứng xăng dầu cho thị trường, vì vậy, cũng cần có cơ chế để họ duy trì lợi nhuận hợp lý.

Điều quan trọng hiện nay là bám sát diễn biến tình hình và chủ động chuẩn bị nhiều phương án ứng phó, cả giải pháp ngắn hạn và chiến lược dài hạn, nhằm hạn chế rủi ro nếu căng thẳng tiếp tục leo thang. Về dài hạn, đây cũng là thời điểm để củng cố năng lực quản trị rủi ro, thông qua việc xây dựng các kịch bản dự phòng, đa dạng hóa thị trường xuất khẩu và chuẩn bị các phương án linh hoạt khi môi trường bên ngoài biến động.

PV: Xin cảm ơn ông!

Tú Anh

Đọc thêm

Ngân hàng giữ “sức khỏe” tài sản, bảo đảm an toàn cho hành trình tăng trưởng cao

PGS.TS. Nguyễn Hữu Huân - Khoa Ngân hàng, Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh cho rằng, nợ xấu tăng nhanh hơn tín dụng là tín hiệu cho thấy phải ưu tiên chất lượng tăng trưởng. Kiểm soát tốt chất lượng tài sản, ưu tiên các giải pháp trọng tâm giúp hệ thống ngân hàng có nền tảng lành mạnh hơn để hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng cao những năm tới, mà không tạo ra rủi ro tài chính lớn về sau.

Mở dư địa phát triển, quỹ bảo hiểm hưu trí bổ sung tăng sức hút nhờ “lãi kép”

Trao đổi với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư, bà Lê Vân - Giám đốc Ban Phát triển Kinh doanh Công ty TNHH Quản lý Quỹ Vietcombank (VCBF) nhấn mạnh những thay đổi mang tính định hình lại “luật chơi”, phát triển bảo hiểm hưu trí bổ sung. Trong đó, việc mở rộng danh mục đầu tư có thể giúp quỹ đạt lợi suất ròng dài hạn cạnh tranh hơn, tăng sức hấp dẫn nhờ hiệu ứng “lãi kép” từ đầu tư dài hạn và ưu đãi thuế.

Cơ chế bảo lãnh và tín nhiệm quyết định sức hút của trái phiếu PPP

Theo ông Nguyễn Quang Thuân - Chủ tịch FiinGroup và FiinRatings, cơ chế bảo lãnh thanh toán cùng hoạt động xếp hạng tín nhiệm đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao sức hấp dẫn của trái phiếu PPP đối với các nhà đầu tư dài hạn.

Việt Nam thịnh vượng và mạnh mẽ sẽ mang lại lợi ích to lớn cho Singapore

Nhân dịp Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm thăm cấp nhà nước tới Singapore vào ngày 29/5/2026, Đại sứ Singapore tại Việt Nam - ông Rajpal Singh đã có cuộc trả lời phỏng vấn báo Tài chính - Đầu tư về quan hệ hợp tác hai nước. Theo Đại sứ thì một Việt Nam mạnh mẽ và thịnh vượng sẽ mang lại lợi ích to lớn cho Singapore, ASEAN và cộng đồng quốc tế.

Nâng chất lượng hàng hóa để đón dòng vốn ngoại hậu nâng hạng

Việc nâng hạng thị trường không chỉ mang ý nghĩa thu hút dòng vốn quốc tế mà còn đặt ra yêu cầu cải thiện chất lượng hàng hóa trên thị trường chứng khoán. Theo ông Lương Duy Phước - Giám đốc Phân tích Công ty cổ phần Chứng khoán Kafi đẩy mạnh thoái vốn nhà nước, gia tăng tỷ lệ cổ phiếu tự do chuyển nhượng và nâng cao tính minh bạch sẽ là những yếu tố then chốt giúp thị trường tận dụng hiệu quả cơ hội từ quá trình nâng hạng.

Thu hút FDI xanh và công nghệ cao, tạo đà tăng trưởng bền vững

Trao đổi với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư, TS. Trần Toàn Thắng - Trưởng ban Ban Quốc tế và chính sách hội nhập, Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính (Bộ Tài chính) nhấn mạnh, Việt Nam cần thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào công nghệ cao, dự án xanh, để tạo đà cho tăng trưởng bền vững trong thời gian tới.

Doanh nghiệp hạ tầng bước vào cuộc đua năng lực và sức khỏe tài chính

Theo ông Tyler Nguyễn Mạnh Dũng - Giám đốc Cấp cao Nghiên cứu Chiến lược Thị trường tại HSC, chu kỳ đẩy mạnh đầu tư công và phát triển hạ tầng đang mở ra dư địa tăng trưởng lớn cho nhiều doanh nghiệp. Tuy nhiên, áp lực huy động vốn dài hạn cùng yêu cầu cao hơn về năng lực thi công, quản trị và sức khỏe tài chính đang khiến thị trường hạ tầng bước vào giai đoạn phân hóa mạnh.

Khung pháp lý trái phiếu PPP: Cần hướng tới xây dựng một lớp tài sản hạ tầng dài hạn, tin cậy

Theo TS. Nguyễn Kinh Luân - Thành viên Hội đồng Quản trị - Phó Tổng giám đốc Đầu tư và Phát triển thị trường quốc tế, Tập đoàn Xây dựng Hòa Bình, khung pháp lý cho trái phiếu PPP cần hướng tới xây dựng một lớp tài sản hạ tầng dài hạn, minh bạch và đáng tin cậy trên thị trường vốn Việt Nam.
Xem thêm