Lệch pha kỳ hạn bào mòn NIM, tín dụng bất động sản cần tái cơ cấu

Từ góc nhìn ngành ngân hàng, Công ty Chứng khoán SHS cho rằng, bức tranh tín dụng năm 2025 tuy tăng mạnh nhưng chất lượng tăng trưởng là dấu hỏi lớn. Đáng chú ý, áp lực lệch pha kỳ hạn cùng rủi ro thanh khoản, lãi suất âm thầm bào mòn NIM, trong khi tỷ trọng tín dụng bất động sản đến lúc cần giảm 1 - 2%/năm, hướng tới lộ trình tái cơ cấu tín dụng bền vững hơn.
aa
Tín dụng áp sát 18%, huy động chậm nhịp, đẩy áp lực lãi suất dồn về cuối năm "Gạn đục, khơi trong" dòng tín dụng bất động sản NIM dò đáy, áp lực lợi nhuận lộ diện đằng sau đà tăng tín dụng

Công ty Cổ phần Chứng khoán Sài Gòn - Hà Nội (SHS) vừa phát hành báo cáo triển vọng kinh tế vĩ mô năm 2026 với tựa đề “Vó ngựa thời vận”, giúp lắng nghe nhịp chuyển của nền kinh tế, của chính sách và của dòng tiền để nhận diện thế cuộc trong giai đoạn mới.

Đến lúc cần lộ trình giảm tỷ trọng tín dụng bất động sản 1 - 2%/năm

Từ góc độ ngành ngân hàng, nhóm phân tích SHS cho rằng, nhìn từ bên ngoài, bức tranh năm 2025 có vẻ khá sáng sủa khi tín dụng tăng mạnh, đạt 16,56% vào cuối tháng 11. Tăng trưởng tín dụng tiếp đà tăng lên 17,87% tính đến ngày 24/12 theo số liệu của Ngân hàng Nhà nước.

Tuy nhiên, đi sâu phân tích cho thấy chất lượng của tăng trưởng này vẫn còn là một dấu hỏi lớn.

Liên quan tín dụng bất động sản, những tháng cuối năm 2025, tại nhiều hội thảo lớn, câu hỏi được nhắc lại không ít lần là liệu năm 2026 ngành ngân hàng có lộ trình cụ thể để giảm dần tỷ trọng tín dụng bất động sản trong tổng dư nợ hay không. Đây là vấn đề mang tính hệ trọng, vì vậy, nhà điều hành cần truyền thông rõ ràng và nhất quán.

"Một kịch bản tích cực là công bố lộ trình trong 3 - 5 năm để đưa tỷ trọng tín dụng bất động sản về mức an toàn hơn, chẳng hạn mỗi năm giảm 1 - 2%, đồng thời khuyến khích dòng vốn chảy sang lĩnh vực sản xuất và dịch vụ, đặc biệt là khoa học công nghệ" - nhóm phân tích SHS khuyến nghị.

Cũng theo Chứng khoán SHS, việc định hướng tín dụng vào công nghệ cao và đổi mới sáng tạo sẽ giúp nâng năng suất của nền kinh tế, tạo nền tảng cho tăng trưởng dài hạn.

Tuy nhiên, để dòng vốn này thực sự vận hành, không thể chỉ dựa vào tín dụng ngân hàng truyền thống.

Theo đó, cần phát triển mạnh hơn các kênh vốn cổ phần, vốn mạo hiểm, quỹ đồng đầu tư và cơ chế bảo lãnh rủi ro, qua đó chia sẻ rủi ro với ngân hàng và cho phép vốn dám đi vào những dự án công nghệ mới, vốn nhiều rủi ro nhưng cũng giàu tiềm năng.

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, tại Đức, khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa đóng góp tới 35% chi tiêu nghiên cứu và phát triển của toàn nền kinh tế, với nhiều doanh nghiệp dẫn dắt đổi mới.

Muốn đi theo con đường đó, các doanh nghiệp công nghệ nhỏ và vừa cần được tiếp cận vốn cổ phần và sự hỗ trợ của các quỹ đầu tư, thay vì chỉ dựa vào nợ vay. Theo đó, cần thúc đẩy thông qua các chính sách như ưu đãi thuế cho quỹ khởi nghiệp hay các chương trình matching fund (mô hình đồng đầu tư, kết hợp giữa nguồn vốn Nhà nước và tư nhân).

Lệch pha kỳ hạn gia tăng, rủi ro thanh khoản lộ diện

Một trong những điểm nhóm phân tích Chứng khoán SHS lưu ý với ngành ngân hàng, đó là rủi ro thanh khoản và rủi ro lãi suất luôn ở trạng thái thường trực.

Để hỗ trợ doanh nghiệp trong giai đoạn khó khăn, ngành ngân hàng đã triển khai chủ trương cơ cấu lại nợ và giữ nguyên nhóm nợ theo Thông tư 02/2023/TT-NHNN, sau đó tiếp tục gia hạn bằng Thông tư 06/2023/TT-NHNN. Cách làm này được ví như mua thêm thời gian, giúp doanh nghiệp có cơ hội hồi phục và ngân hàng tránh phải đẩy nợ ra ngoại bảng ngay lập tức.

Đổi lại, sự lệch pha kỳ hạn trên bảng cân đối của toàn hệ thống ngày càng rõ nét. Ở phía tài sản, nhiều khoản vay bị kéo dài thời hạn, trong khi phía nguồn vốn lại có xu hướng ngắn lại. Sự chênh lệch này tích tụ dần và âm thầm bào mòn biên lãi ròng (NIM) của hệ thống.

Lệch pha kỳ hạn bào mòn NIM, tín dụng bất động sản cần tái cơ cấu
Theo Chứng khoán SHS, một hệ quả khác của việc cơ cấu nợ kéo dài và chênh lệch kỳ hạn là rủi ro thanh khoản gia tăng. Khi nhiều khoản cho vay có kỳ hạn dài hơn, các ngân hàng buộc phải tăng huy động vốn trung và dài hạn để bảo đảm các tỷ lệ an toàn. Thực tế từ cuối năm 2024 sang năm 2025 cho thấy cuộc đua huy động kỳ hạn 12 - 36 tháng đã nóng lên rõ rệt, với lãi suất tiền gửi được nâng thêm khoảng 0,5 - 1% ở nhiều kỳ hạn.

Trong bối cảnh đó, Nghị quyết 42/2017/QH14 về thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng vốn được thí điểm trong 5 năm đã chính thức được Quốc hội luật hóa vào tháng 6/2025. Luật Các tổ chức tín dụng (sửa đổi) trao cho các tổ chức tín dụng công cụ mạnh hơn trong việc thu giữ tài sản bảo đảm và xử lý nợ xấu.

Những điểm hiệu quả nhất của Nghị quyết 42/2017/QH14 như quyền thu giữ tài sản bảo đảm hay bán nợ xấu theo giá thị trường đều được kế thừa, qua đó tạo điều kiện đẩy nhanh quá trình thu hồi nợ.

"Tuy vậy, thực tế cho thấy “phép màu” chỉ xuất hiện khi luật được thực thi quyết liệt. Việc xử lý nợ xấu tại Việt Nam vẫn vướng nhiều nút thắt quen thuộc, từ thủ tục tòa án kéo dài, thiếu nhân lực thi hành án ở địa phương, đến việc định giá tài sản bảo đảm chưa sát thị trường, quy trình đấu giá rườm rà và tâm lý dè dặt của bên mua nợ" - SHS chỉ rõ.

Vì vậy, việc luật hóa Nghị quyết 42/2017/QH14 cần đi kèm cơ chế giám sát độc lập đối với quá trình xử lý tài sản, nhằm bảo đảm tính minh bạch trong định giá và cân bằng quyền lợi giữa bên cho vay và bên đi vay. Nếu không, tranh chấp và kiện tụng rất dễ trở thành lực cản đối với mục tiêu làm sạch bảng cân đối của ngân hàng./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

VDSC: Mặt bằng lãi suất khó hạ nhiệt trong 3 tháng tới

Dù thị trường đang đặt cược khoảng 50% khả năng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) sẽ tăng lãi suất vào cuối năm, nhưng Chứng khoán Rồng Việt (VDSC) cho rằng, kịch bản này khó xảy ra và mặt bằng lãi suất tại Việt Nam khó hạ nhiệt trong 3 tháng tới, do áp lực tỷ giá, mức chênh lệch hoán đổi VND - USD vẫn cao và nguồn tiền gửi Kho bạc hỗ trợ thanh khoản khá hạn chế.

Thị trường tiền tệ tuần 25 - 29/5: Hơn 30.700 tỷ đồng được bơm ròng ra thị trường, lãi suất liên ngân hàng áp sát 8%

Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần cuối cùng tháng 5/2026 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước đảo chiều bơm ròng 30.732,83 tỷ đồng qua kênh OMO sau hai tuần hút thanh khoản liên tiếp. Trong khi lãi suất liên ngân hàng tăng mạnh ở nhiều kỳ hạn, áp sát 8% và lên cao nhất từ đầu tháng 4/2026, tỷ giá USD/VND có dấu hiệu ổn định hơn, còn USD tự do giảm 140 đồng tuần qua.

Áp lực thanh khoản ngân hàng vẫn khó hạ nhiệt

Theo dự báo của Công ty cổ phần Chứng khoán Rồng Việt, áp lực thanh khoản hệ thống ngân hàng và xu hướng tăng của lãi suất chưa sớm chấm dứt, trong bối cảnh tăng trưởng huy động tiếp tục thấp hơn tín dụng.

Thị trường tiền tệ tuần 18 - 22/5: Bơm ròng 8.000 tỷ đồng, lãi suất liên ngân hàng dự báo duy trì vùng cân bằng 6%

Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 18 - 22/5 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng khoảng 8.000 tỷ đồng qua kênh OMO trong bối cảnh lãi suất liên ngân hàng duy trì quanh vùng 6% - mức được xem là đủ để hỗ trợ tỷ giá nhưng chưa tạo áp lực lớn lên lãi suất huy động. Trong khi đó, tỷ giá trung tâm tăng chậm lại, song áp lực từ đồng USD quốc tế neo cao vẫn hiện hữu.

Vẫn xuất hiện ngân hàng tăng lãi suất huy động, Ngân hàng Nhà nước yêu cầu siết kiểm tra

Ngân hàng Nhà nước chỉ rõ vẫn còn hiện tượng một số ngân hàng thương mại thực hiện điều chỉnh tăng lãi suất. Vì vậy, Ngân hàng Nhà nước vừa yêu cầu Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tại các khu vực tăng cường kiểm tra giảm mặt bằng lãi suất tại địa bàn. Trường hợp phát hiện vi phạm, xử lý theo thẩm quyền và báo cáo ngay về Ngân hàng Nhà nước.

Tỷ giá USD hôm nay (22/5): Tỷ giá trung tâm lùi nhẹ, USD giữ đà tăng khi Fed đối mặt áp lực từ lãi suất thực âm

Sáng ngày 22/5, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm phiên cuối tuần ở mức 25.134 đồng, giảm 1 đồng so với phiên trước, trong khi chỉ số DXY tăng 0,04% lên 99,24 điểm. Đồng USD tiếp tục được hỗ trợ khi lãi suất thực tại Mỹ lần đầu rơi vào vùng âm sau 03 năm, gia tăng kỳ vọng Fed sẽ duy trì chính sách tiền tệ thắt chặt lâu hơn.

Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 5/2026

Mặt bằng lãi suất huy động đã đồng loạt hạ nhiệt sau chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước, nhưng đà giảm đang có dấu hiệu chững lại sau khoảng 01 tháng gần đây. Hiện Agribank dẫn đầu nhóm “big 4” về lãi suất huy động kỳ hạn ngắn, trong khi MB nổi bật ở kỳ hạn dài 24 tháng. Các ngân hàng vẫn duy trì lãi suất tiền gửi online ở vùng cao sau khi cộng thêm lãi suất hấp dẫn.

Chênh lệch tín dụng - huy động lên 1,4 triệu tỷ đồng, áp lực LDR bớt căng khi tính 20% tiền gửi Kho bạc

Nhóm phân tích MBS đánh giá, chênh lệch giữa tín dụng và huy động của hệ thống đã tăng lên khoảng 1,4 triệu tỷ đồng vào tháng 4/2026, tương đương 7,22% dư nợ, gây áp lực lên tỷ lệ LDR. Thông tư 08/2026/TT-NHNN được kỳ vọng giúp các ngân hàng quốc doanh giảm tỷ lệ LDR khoảng 1,1 - 1,5% và bổ sung thêm dư địa cho vay tương đương 0,3 - 0,4% tổng dư nợ toàn hệ thống.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0,20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80