Ngân hàng đẩy lãi suất dưới 6 tháng tăng vọt 1,75%, đưa nhiều kỳ hạn kịch trần

Khảo sát lãi suất huy động ngày 16/12 tại gần 50 ngân hàng cho thấy mặt bằng lãi suất ngắn hạn tiếp tục nhích lên, khi nhiều nhà băng đồng loạt đẩy lãi suất các kỳ hạn dưới 6 tháng lên kịch trần 4,75%/năm, với mức tăng cao nhất tới 1,75 điểm phần trăm. Tính từ đầu quý IV/2025, đã có 33 ngân hàng điều chỉnh tăng lãi suất kỳ hạn 1 tháng, phản ánh cạnh tranh huy động vốn cuối năm gia tăng rõ rệt.
aa
Lãi suất kỳ hạn 6 tháng tăng tốc, top 10 ngân hàng trả lãi cao nhất Lãi suất liên ngân hàng neo trên 7%, tỷ giá hạ theo đà suy yếu của USD “Sóng” lãi suất dâng cao cuối năm, nhiều công cụ can thiệp phải kích hoạt

Khảo sát bảng lãi suất huy động từ gần 50 ngân hàng trên thị trường ngày 16/12 cho thấy, với kỳ hạn 1 tháng, có 7 ngân hàng điều chỉnh tăng lãi suất huy động so với tuần trước, phản ánh xu hướng nhích lên của mặt bằng lãi suất ngắn hạn.

Đơn cử, nhóm ngân hàng quốc doanh gồm Vietcombank, VietinBankBIDV cùng tăng 0,5 điểm phần trăm, dù mức lãi suất tuyệt đối kỳ hạn 1 tháng vẫn ở mức thấp 2,1%/năm, song động thái đồng loạt cho thấy áp lực thanh khoản ngắn hạn đang lan tỏa.

VietABank cũng tăng 0,5 điểm phần trăm, đưa lãi suất lên 3,7%/năm, đáp ứng thanh khoản và nhu cầu cho vay tăng nhiệt cuối năm. Hiện VietABank đang tiếp lực doanh nghiệp với gói vay ưu đãi “Về đích 2025 cùng khách hàng doanh nghiệp”, với lãi suất từ 6%/năm, tài trợ đến 100% giá trị tài sản đảm bảo, giải ngân nhanh, giúp doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận vốn, tăng lực đẩy dòng tiền.

Trong khi đó, Indovinabank và Agribank điều chỉnh nhẹ hơn, tăng 0,3 điểm phần trăm, lần lượt lên 4,2%/năm và 2,4%/năm.

Đồ hoạ: Ánh Tuyết.
Tính chung từ đầu quý IV/2025 đến nay, có tới 33 ngân hàng ồ ạt tăng lãi suất kỳ hạn ngắn như 1 tháng. Trong đó, top 15 ngân hàng tăng lãi suất mạnh nhất cho thấy sự phân hóa rõ rệt về mức độ cấp thiết huy động vốn ngắn hạn.

Tính chung từ đầu quý IV/2025 đến nay, dẫn đầu là PVcomBank với mức tăng 1,75 điểm phần trăm kỳ hạn 1 tháng lên 4,75%/năm. Theo sau là Sacombank tăng 1,5 điểm phần trăm đưa lãi suất tuyệt đối lên 4,3%/năm.

Tháng 12/2025 đánh dấu 34 năm thành lập trên hành trình lớn mạnh, Sacombank mở ra chuỗi ưu đãi tri ân khách hàng, từ ưu đãi lãi suất tiết kiệm, Sacombank Pay, thẻ tín dụng, bảo hiểm... Ngân hàng tặng thêm lãi suất 0,34%/năm khi gửi tại quầy; thưởng tiền khi gửi qua app cùng lãi suất cao hơn đến 1,1%/năm. Mới đây, Sacombank kết hợp MISA Lending mang giải pháp vay vốn “một chạm” cho doanh nghiệp vừa và nhỏ, tiếp sức giai đoạn tăng tốc cuối năm.

Cùng với đó, PGBank và TPBank lần lượt tăng 1,35 điểm phần trăm và 1,15 điểm phần trăm, nhanh chóng đưa lãi suất lên nhóm cao của thị trường 4,75%/năm. Hong Leong Bank tăng 1 điểm phần trăm, phản ánh áp lực cân đối nguồn vốn ngắn hạn.

Ở nhóm tăng khá, VPBank, Techcombank và Vikki Bank điều chỉnh 0,8 - 0,85 điểm phần trăm, trong khi BacABank, MBV, OCB tăng quanh 0,6 - 0,75 điểm phần trăm. Đáng chú ý, VCB Neo dù chỉ tăng 0,6 điểm phần trăm vẫn lên mức cao nhờ nền lãi suất sẵn có.

Nhóm ngân hàng trả lãi suất kịch trần 4,75%/năm cho kỳ hạn 1 tháng chủ yếu đạt được mức này nhờ tăng mạnh lãi suất so với cuối quý III/2025, phản ánh cạnh tranh huy động ngắn hạn rõ nét gồm: PVcomBank; PGBank; TPBank; VPBank; VCBNeo và CIMB.

Ngân hàng đẩy lãi suất dưới 6 tháng tăng vọt 1,75%, đưa nhiều kỳ hạn kịch trần
Ngân hàng đẩy lãi suất dưới 6 tháng tăng vọt 1,75%, đưa nhiều kỳ hạn kịch trần. Ảnh minh hoạ.

Với kỳ hạn 3 tháng, nhóm ngân hàng áp dụng mức lãi suất kịch trần 4,75%/năm nhờ tăng mạnh lãi suất so với cuối quý III/2025.

Dẫn đầu là PVcomBank, khi lãi suất tăng tới 1,45 điểm phần trăm, phản ánh nhu cầu bổ sung thanh khoản ngắn hạn khá lớn. Theo sau là VIB với mức tăng 1,05 điểm phần trăm và PGBank tăng 0,95 điểm phần trăm, cho thấy xu hướng đẩy nhanh huy động để chuẩn bị nguồn vốn cuối năm.

Nhóm điều chỉnh ở mức trung bình gồm TPBank và VPBank, cùng tăng 0,85 điểm phần trăm, trong khi MBV tăng 0,65 điểm phần trăm. Bên cạnh đó, VCB Neo và CIMB với bước nhảy nhẹ hơn, tăng lần lượt 0,4 điểm phần trăm và 0,25 điểm phần trăm, song vẫn đưa lãi suất lên kịch trần 4,75%/năm. Điều này cho thấy sự đồng loạt tham gia cuộc đua lãi suất, dù mức độ cấp thiết giữa các ngân hàng có sự khác biệt./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

VDSC: Mặt bằng lãi suất khó hạ nhiệt trong 3 tháng tới

Dù thị trường đang đặt cược khoảng 50% khả năng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) sẽ tăng lãi suất vào cuối năm, nhưng Chứng khoán Rồng Việt (VDSC) cho rằng, kịch bản này khó xảy ra và mặt bằng lãi suất tại Việt Nam khó hạ nhiệt trong 3 tháng tới, do áp lực tỷ giá, mức chênh lệch hoán đổi VND - USD vẫn cao và nguồn tiền gửi Kho bạc hỗ trợ thanh khoản khá hạn chế.

Thị trường tiền tệ tuần 25 - 29/5: Hơn 30.700 tỷ đồng được bơm ròng ra thị trường, lãi suất liên ngân hàng áp sát 8%

Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần cuối cùng tháng 5/2026 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước đảo chiều bơm ròng 30.732,83 tỷ đồng qua kênh OMO sau hai tuần hút thanh khoản liên tiếp. Trong khi lãi suất liên ngân hàng tăng mạnh ở nhiều kỳ hạn, áp sát 8% và lên cao nhất từ đầu tháng 4/2026, tỷ giá USD/VND có dấu hiệu ổn định hơn, còn USD tự do giảm 140 đồng tuần qua.

Áp lực thanh khoản ngân hàng vẫn khó hạ nhiệt

Theo dự báo của Công ty cổ phần Chứng khoán Rồng Việt, áp lực thanh khoản hệ thống ngân hàng và xu hướng tăng của lãi suất chưa sớm chấm dứt, trong bối cảnh tăng trưởng huy động tiếp tục thấp hơn tín dụng.

Thị trường tiền tệ tuần 18 - 22/5: Bơm ròng 8.000 tỷ đồng, lãi suất liên ngân hàng dự báo duy trì vùng cân bằng 6%

Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 18 - 22/5 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng khoảng 8.000 tỷ đồng qua kênh OMO trong bối cảnh lãi suất liên ngân hàng duy trì quanh vùng 6% - mức được xem là đủ để hỗ trợ tỷ giá nhưng chưa tạo áp lực lớn lên lãi suất huy động. Trong khi đó, tỷ giá trung tâm tăng chậm lại, song áp lực từ đồng USD quốc tế neo cao vẫn hiện hữu.

Vẫn xuất hiện ngân hàng tăng lãi suất huy động, Ngân hàng Nhà nước yêu cầu siết kiểm tra

Ngân hàng Nhà nước chỉ rõ vẫn còn hiện tượng một số ngân hàng thương mại thực hiện điều chỉnh tăng lãi suất. Vì vậy, Ngân hàng Nhà nước vừa yêu cầu Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tại các khu vực tăng cường kiểm tra giảm mặt bằng lãi suất tại địa bàn. Trường hợp phát hiện vi phạm, xử lý theo thẩm quyền và báo cáo ngay về Ngân hàng Nhà nước.

Tỷ giá USD hôm nay (22/5): Tỷ giá trung tâm lùi nhẹ, USD giữ đà tăng khi Fed đối mặt áp lực từ lãi suất thực âm

Sáng ngày 22/5, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm phiên cuối tuần ở mức 25.134 đồng, giảm 1 đồng so với phiên trước, trong khi chỉ số DXY tăng 0,04% lên 99,24 điểm. Đồng USD tiếp tục được hỗ trợ khi lãi suất thực tại Mỹ lần đầu rơi vào vùng âm sau 03 năm, gia tăng kỳ vọng Fed sẽ duy trì chính sách tiền tệ thắt chặt lâu hơn.

Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 5/2026

Mặt bằng lãi suất huy động đã đồng loạt hạ nhiệt sau chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước, nhưng đà giảm đang có dấu hiệu chững lại sau khoảng 01 tháng gần đây. Hiện Agribank dẫn đầu nhóm “big 4” về lãi suất huy động kỳ hạn ngắn, trong khi MB nổi bật ở kỳ hạn dài 24 tháng. Các ngân hàng vẫn duy trì lãi suất tiền gửi online ở vùng cao sau khi cộng thêm lãi suất hấp dẫn.

Chênh lệch tín dụng - huy động lên 1,4 triệu tỷ đồng, áp lực LDR bớt căng khi tính 20% tiền gửi Kho bạc

Nhóm phân tích MBS đánh giá, chênh lệch giữa tín dụng và huy động của hệ thống đã tăng lên khoảng 1,4 triệu tỷ đồng vào tháng 4/2026, tương đương 7,22% dư nợ, gây áp lực lên tỷ lệ LDR. Thông tư 08/2026/TT-NHNN được kỳ vọng giúp các ngân hàng quốc doanh giảm tỷ lệ LDR khoảng 1,1 - 1,5% và bổ sung thêm dư địa cho vay tương đương 0,3 - 0,4% tổng dư nợ toàn hệ thống.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0,20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80