Phân cấp, ủy quyền tạo hiệu quả quản lý bảo trì đường bộ

Trí Dũng
Hiện tại, đối với hệ thống đường bộ nước ta, Bộ Giao thông vận tải đã thực hiện phân cấp, phân quyền mạnh mẽ toàn bộ việc đầu tư xây dựng, quản lý, khai thác các loại đường đô thị, đường xã đến tỉnh, đường giao thông nông thôn cho UBND và chính quyền địa phương các cấp để đầu tư xây dựng, cải tạo, nâng cấp, mở rộng, quản lý, khai thác vận tải và bảo trì. Điều này giúp cho vận hành khai thác đường bộ được êm thuận, công tác bảo trì, bảo dưỡng đạt hiệu quả, tiết kiệm ngân sách…
aa
Phân cấp, ủy quyền tạo hiệu quả quản lý bảo trì đường bộ

Đầu tư nhiều công nghệ mới giúp công tác bảo trì đường bộ ngày càng hiệu quả.

Phân vai cụ thể để quản lý, bảo trì đường bộ

Bộ Giao thông vận tải (GTVT) cho biết, theo quy định của Luật Giao thông đường bộ 2008 đang có hiệu lực thi hành, UBND cấp tỉnh quản lý, bảo trì đường tỉnh, đường đô thị; quản lý bảo trì đường huyện, đường xã và đường khác thuộc phạm vi quản lý.

Bộ GTVT quản lý, bảo trì hệ thống quốc lộ sử dụng ngân sách trung ương. Cụ thể, trong tổng số 610.000 km đường bộ nước ta, Bộ GTVT chỉ quản lý, bảo trì 25.100 km quốc lộ và trên 1.600 km đường cao tốc, do bộ đầu tư hoặc ký kết đang thực hiện hợp đồng BOT, chiếm 4,4% chiều dài đường bộ cả nước.

Trong số này, Bộ GTVT đã chỉ đạo Cục Đường bộ uỷ quyền cho các sở GTVT quản lý 13.120 km quốc lộ, chiếm 52,3% chiều dài các quốc lộ. Đây là các tuyến quốc lộ thứ yếu, quốc lộ lưu lượng vận tải ít, yêu cầu kết nối không cao như: quốc lộ 1, đường Hồ Chí Minh và các quốc lộ chính yếu trong quy hoạch.

Mặt khác, các tỉnh, thành phố quản lý 583.400 km các loại đường tỉnh, đường đô thị, đường huyện, đường xã và đường khác trên địa bàn, chiếm 95,6% chiều dài toàn bộ các đường bộ của Việt Nam.

Khi được ủy quyền, các sở GTVT được quyền quản lý, bảo trì quốc lộ; làm chủ đầu tư phê duyệt thiết kế, dự toán, lựa chọn nhà thầu, ký hợp đồng, nghiệm thu, thanh toán…; đồng thời được chấp thuận, cấp giấy phép thi công, giám sát, kiểm tra việc xây dựng công trình kết cấu hạ tầng thiết yếu khác (điện, cấp, thoát nước, viễn thông, băng tải chuyển hàng …) vào phạm vi quốc lộ và hàng lang an toàn quốc lộ.

Như vậy thực chất hiện nay, chính quyền các địa phương và các sở GTVT quản lý, bảo trì và tổ chức khai thác tổng cộng là 596.520 km đường bộ các loại cả của địa phương và quốc lộ của trung ương trên tổng số 610.000 km đường bộ cả nước, chiếm 97,8% toàn bộ các hệ thống đường bộ.

Hiện tại, Bộ GTVT giao Cục Đường bộ trực tiếp quản lý 2,2% chiều dài đường bộ cả nước, tương đương với 13.480 km đường bộ, trong đó đối với 2.000 km quốc lộ đầu tư theo hình thức BOT thì Cục Đường bộ Việt Nam chỉ giám sát, kiểm tra các nhà đầu tư BOT thực hiện theo hợp đồng và theo quy định của pháp luật; hướng dẫn, giám sát kiểm tra VEC quản lý, khai thác bảo trì 500 km đường cao tốc VEC đầu tư và khai thác.

Nếu trừ đi số km của VEC quản lý và khai thác bảo trì, Cục Đường bộ Việt Nam và 4 khu quản lý đường bộ chỉ quản lý, bảo trì 10.980 km quốc lộ và cao tốc, bằng 1,8% so với tổng chiều dài các loại đường bộ của cả nước (610.000 km).

Địa phương quản lý, bảo trì, khai thác hơn 95,6% đường bộ

Bảo trì đường bộ

Cũng theo Bộ GTVT, thực hiện chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ GTVT đã chủ trì xây dựng dự thảo Luật Đường bộ. Bộ Công an chủ trì xây dựng Luật Trật tự an toàn giao thông (ATGT) trình Chính phủ xem xét, lấy ý kiến sau đó trình Quốc hội. Trong đó, dự luật thể hiện rõ các nội dung phân cấp, phân quyền trong đầu tư xây dựng, quản lý, khai thác và bảo trì đường bộ.

Cụ thể, đối với hệ thống đường địa phương, dự thảo Luật Đường bộ tiếp tục phân quyền toàn bộ các địa phương sẽ tiếp tục quản lý, bảo trì, khai thác trên 95,6% so với tổng chiều dài đường bộ cả nước. Tỷ lệ này sẽ còn tăng lên trong quá trình xây dựng, phát triển hạ tầng giao thông, đô thị, phát triển kinh tế - xã hội và xây dựng nông thôn mới của các địa phương.

Với quốc lộ và cao tốc sử dụng vốn của trung ương, dự thảo Luật Đường bộ đã được chấp thuận theo hướng giao Bộ GTVT tổ chức quản lý, vận hành, khai thác, sử dụng và bảo trì đối với quốc lộ. UBND cấp tỉnh có trách nhiệm tổ chức quản lý, vận hành khai thác, sử dụng và bảo trì hệ thống đường địa phương; quốc lộ được phân cấp trong trường hợp bảo đảm được nguồn lực thực hiện.

Liên quan đến việc đấu nối đường địa phương vào quốc lộ, Bộ GTVT đã xây dựng trình Chính phủ ban hành Nghị định số 117/2021/NĐ-CP. Theo đó, UBND cấp tỉnh toàn quyền quyết định danh mục điểm đấu nối đường của tỉnh vào quốc lộ. Bộ GTVT chỉ quy định các yếu tố kỹ thuật như khoảng cách điểm đấu nối, yêu cầu làn tách, nhập, tăng, giảm tốc chuyển tiếp đường đấu nối của địa phương vào quốc lộ nhằm bảo đảm an toàn giao thông, tránh tai nạn và ùn tắc giao thông.

Hiện nay, các điểm đấu nối làm đúng quy định này thì cấp tỉnh tự quyết định, tuy nhiên, do địa phương có nhu cầu bổ sung các điểm đấu nối ngoài danh mục mà tỉnh đã duyệt, nhưng lại không đáp ứng các yếu tố kỹ thuật nên cần trao đổi, xin ý kiến của Bộ GTVT về chuyên môn kỹ thuật để sao cho đấu nối đường của địa phương mình vào quốc lộ được an toàn và bảo đảm trật tự ATGT.

97,8% toàn bộ các hệ thống đường bộ

Hiện nay, chính quyền các địa phương và các sở GTVT quản lý, bảo trì và tổ chức khai thác tổng cộng là 596.520 km đường bộ các loại cả của địa phương và quốc lộ của trung ương trên tổng số 610.000 km đường bộ cả nước, chiếm 97,8% toàn bộ các hệ thống đường bộ.

Trí Dũng

Đọc thêm

Đa dạng hóa kênh dẫn vốn đáp ứng nhu cầu đầu tư của nền kinh tế

Đa dạng hóa kênh dẫn vốn đáp ứng nhu cầu đầu tư của nền kinh tế

Khi nhu cầu vốn cho hạ tầng, công nghiệp và chuyển đổi xanh ngày càng lớn, mô hình phụ thuộc chủ yếu vào tín dụng ngân hàng đang bộc lộ những giới hạn. Trong bối cảnh đó, việc phát triển thị trường vốn và thu hút dòng vốn quốc tế không chỉ là giải pháp bổ sung, mà đang trở thành động lực then chốt để mở rộng nguồn lực, hướng tới mục tiêu tăng trưởng nhanh và bền vững.
Hải Phòng điều hành kinh tế - xã hội bám sát kịch bản tăng trưởng

Hải Phòng điều hành kinh tế - xã hội bám sát kịch bản tăng trưởng

Kinh tế - xã hội của TP. Hải Phòng luôn ghi nhận nhiều tín hiệu tích cực trên hầu hết các lĩnh vực, cơ bản bám sát kịch bản tăng trưởng đề ra.

TP. Hồ Chí Minh: Muốn tăng trưởng cao phải đổi cách phát triển

Trong bối cảnh kinh tế thế giới biến động và áp lực tăng trưởng ngày càng lớn, TP. Hồ Chí Minh đang đứng trước yêu cầu phải thay đổi mô hình phát triển. Những lợi thế của một trung tâm kinh tế lớn nhất cả nước vẫn lớn, nhưng nếu không tháo gỡ các nút thắt về thể chế, hạ tầng và năng lượng, Thành phố khó bứt phá để trở thành siêu đô thị đổi mới sáng tạo của khu vực.
Bộ Tài chính chủ động kịp thời, giữ ổn định kinh tế vĩ mô

Bộ Tài chính chủ động kịp thời, giữ ổn định kinh tế vĩ mô

Trước những diễn biến phức tạp của xung đột quân sự tại Trung Đông và nguy cơ tác động tới kinh tế toàn cầu, Bộ Tài chính đã nhanh chóng ban hành chỉ đạo yêu cầu toàn Ngành theo dõi sát tình hình, đánh giá đầy đủ các kịch bản tác động và chủ động đề xuất giải pháp điều hành phù hợp.
Chủ động thích ứng, thúc đẩy hoạt động xuất khẩu

Chủ động thích ứng, thúc đẩy hoạt động xuất khẩu

Thủ tướng Chính phủ vừa ký Công điện số 23/CĐ-TTg ngày 16/3/2026 chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương, tập đoàn, tổng công ty nhà nước tiếp tục thực hiện quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả các các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm để chủ động thích ứng linh hoạt với tình hình thế giới, khu vực, thúc đẩy hơn nữa hoạt động xuất khẩu.
Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa chuyển đổi số, phát triển hệ sinh thái số

Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa chuyển đổi số, phát triển hệ sinh thái số

Đề án chuyển đổi số các doanh nghiệp nhỏ và vừa giai đoạn 2026 - 2030 đặt mục tiêu đến năm 2030, có ít nhất 500.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa được hỗ trợ chuyển đổi số và phát triển hệ sinh thái số thông qua các hoạt động của đề án.
Thủ tướng chỉ đạo tiếp tục tháo gỡ các dự án tồn đọng, thúc đẩy tăng trưởng

Thủ tướng chỉ đạo tiếp tục tháo gỡ các dự án tồn đọng, thúc đẩy tăng trưởng

Ngày 16/3, tại trụ sở Chính phủ, Thủ tướng Phạm Minh Chính chủ trì cuộc họp của Thường trực Chính phủ cho ý kiến về một số nội dung quan trọng để tiếp tục tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc, các vấn đề, dự án tồn đọng, kéo dài, khơi thông, giải phóng, huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực, góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế từ 10% trở lên.
Quảng Ninh dự kiến thu hơn 15.600 tỷ đồng từ du lịch trong quý I/2026

Quảng Ninh dự kiến thu hơn 15.600 tỷ đồng từ du lịch trong quý I/2026

Bước vào năm 2026, Quảng Ninh tiếp tục khẳng định vị thế điểm đến hàng đầu khi đón hơn 6,2 triệu lượt khách trong quý I, doanh thu vượt 15.687 tỷ đồng. Những con số này cho thấy sức bật mạnh mẽ và triển vọng tăng trưởng tích cực của ngành du lịch Quảng Ninh.
Xem thêm
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0,20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80