Sau nhịp hạ nhiệt, ngân hàng nào trả lãi suất cao kỳ hạn 6 tháng?

Khảo sát ngày 5/5 cho thấy, sau cuộc họp 9/4, lãi suất huy động kỳ hạn 6 tháng đã đồng loạt giảm 0,1 - 0,6 điểm phần trăm tại nhiều ngân hàng. Tuy vậy, mặt bằng hiện vẫn cao hơn giai đoạn đầu của làn sóng tăng lãi suất từ 0,2 - 2,9 điểm phần trăm. Đáng chú ý, một số ngân hàng vẫn duy trì mức 6,5 - 7,3%/năm, chưa kể các chương trình cộng lãi suất ngoài.
aa

Hạ lãi suất, ngân hàng “xoay trục” nguồn vốn Ngân hàng lãi lớn vượt 94.000 tỷ đồng quý I/2026, vẫn có 8 nhà băng “đi ngược”

Lãi suất hạ nhiệt sau chỉ đạo, nhưng “sóng ngầm” cạnh tranh vẫn dâng cao

Khảo sát biểu lãi suất niêm yết ngày 5/5 cho thấy, sau cuộc họp giữa Thống đốc Ngân hàng Nhà nước và 46 ngân hàng thương mại ngày 9/4, mặt bằng lãi suất huy động kỳ hạn 6 tháng đã đồng loạt điều chỉnh giảm, với mức giảm phổ biến từ 0,1 đến 0,6 điểm phần trăm.

Sau nhịp hạ nhiệt, ngân hàng nào trả lãi suất cao kỳ hạn 6 tháng?
Đồ họa: Ánh Tuyết

Cụ thể, nhóm giảm mạnh nhất 0,5 - 0,6 điểm phần trăm lãi suất tiền gửi gồm: VPBank xuống 5,8%/năm, HDBank còn 4,9%/năm, VikkiBank giảm còn 5,9%/năm, BaoVietBank xuống 5,5%/năm, PVcomBank còn 5%/năm, ACB còn 4,5%/năm, PublicBank xuống 5,8%/năm, VietABank còn 5,8%/năm, PGBank xuống 6,6%/năm, Techcombank còn 5,95%/năm và UOB còn 5,7%/năm.

Nhóm giảm nhẹ hơn 0,2 - 0,3 điểm phần trăm gồm: GPBank còn 4,8%/năm, BVBank xuống 6,45%/năm, Sacombank còn 6,3%/năm, HongLeongBank còn 7,3%/năm, TPBank (TPB) còn 5,5%/năm, VietBank và SeABank lần lượt ở 5,8%/năm và 4,75%/năm; OCB 6,4%/năm.

Nhóm giảm nhẹ kỳ hạn 6 tháng có thể kể đến như: MB hạ 0,1 điểm phần trăm còn 4,6%/năm, Standard Chartered 3,76%/năm, NCB về 6,2%/năm, Shinhan Bank 4,4%/năm, VCBNeo còn 6,5%/năm và SaigonBank 6,4%/năm; trong khi ABBank giảm nhẹ 0,05 điểm phần trăm xuống 6,05%/năm.

Dù vậy, so với cuối quý III/2025, mặt bằng lãi suất hiện vẫn cao hơn tại phần lớn ngân hàng, với mức tăng phổ biến 0,2 - 2,9 điểm phần trăm, thậm chí HongLeongBank tăng tới 2,9 điểm phần trăm, Sacombank và LPBank cùng tăng 2,1 điểm phần trăm. Một số ngân hàng khác như: Techcombank, PGBank, BacABank, SaigonBank ghi nhận mức tăng khoảng 1,6 điểm phần trăm, trong khi VPBank, ACB và SeABank cùng tăng khoảng 1 điểm phần trăm.

Ngược lại, một số ít ngân hàng đã giảm so với cuối quý III/2025 như HDBank giảm 0,3 điểm phần trăm, GPBank giảm 0,1 điểm phần trăm, cho thấy mặt bằng lãi suất vẫn đang trong xu hướng điều chỉnh nhưng chưa quay về mức thấp trước đó.

Theo nhận định của Bộ phận Phân tích kinh tế và thị trường tài chính thuộc nhóm Ngân hàng doanh nghiệp và định chế tài chính (Techcombank), diễn biến giảm lãi suất đồng loạt cho thấy định hướng điều hành mang tính hỗ trợ tăng trưởng của cơ quan quản lý.

“Chúng tôi đánh giá Ngân hàng Nhà nước vẫn còn dư địa để tiếp tục ổn định và từng bước hạ mặt bằng lãi suất trong thời gian tới, thông qua các công cụ điều tiết như nghiệp vụ thị trường mở (OMO), các giao dịch hoán đổi ngoại tệ (swap), cũng như các chương trình tái cấp vốn có mục tiêu” - nhóm phân tích Techcombank nhận định.

Dù vậy, bộ phận phân tích của ngân hàng Techcombank cũng lưu ý một số rủi ro tiềm ẩn vẫn cần được theo dõi chặt chẽ do có thể tạo áp lực trở lại lên mặt bằng lãi suất.

Theo đó, thứ nhất, áp lực lên tỷ giá USD/VND có xu hướng gia tăng trong bối cảnh đồng USD tiếp tục duy trì sức mạnh, đồng thời rủi ro địa chính trị là khó đoán. Thứ hai, rủi ro lạm phát tăng cao, đặc biệt khi giá hàng hóa cơ bản và giá dầu diễn biến khó lường, có thể hạn chế dư địa nới lỏng chính sách tiền tệ. Cuối cùng, tốc độ tăng trưởng tiền gửi có thể chậm lại nếu giải ngân đầu tư công và chi tiêu ngân sách không đạt kỳ vọng, trong bối cảnh ngân sách nhà nước tiếp tục duy trì trạng thái thặng dư hoặc thâm hụt ở mức thấp./.

Nhóm ngân hàng cao vẫn giữ lãi suất cao

Trong bối cảnh nhiều ngân hàng hạ lãi suất huy động kỳ hạn 6 tháng, nhóm dẫn đầu vẫn duy trì mức cao. Đơn cử, HongLeong Bank đứng đầu với 7,3%/năm, giảm 0,3 điểm phần trăm sau ngày 9/4 nhưng vẫn cao hơn 2,9 điểm phần trăm so với cuối quý III/2025. BacABank ở mức 6,85%/năm, giảm 0,2 điểm phần trăm và cao hơn 1,6 điểm phần trăm. PGBank niêm yết 6,6%/năm, giảm mạnh 0,5 điểm phần trăm nhưng vẫn tăng 1,6 điểm phần trăm so với cuối quý III/2025. Trong khi đó, VCBNeoMBV cùng duy trì 6,5%/năm, cao hơn 1,2 điểm phần trăm so với cuối quý III/2025.

Đáng chú ý, các chương trình cộng lãi suất ngoài có thể nâng mức thực nhận thêm tới khoảng 2%/năm đối với một số nhóm khách hàng./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

VDSC: Mặt bằng lãi suất khó hạ nhiệt trong 3 tháng tới

Dù thị trường đang đặt cược khoảng 50% khả năng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) sẽ tăng lãi suất vào cuối năm, nhưng Chứng khoán Rồng Việt (VDSC) cho rằng, kịch bản này khó xảy ra và mặt bằng lãi suất tại Việt Nam khó hạ nhiệt trong 3 tháng tới, do áp lực tỷ giá, mức chênh lệch hoán đổi VND - USD vẫn cao và nguồn tiền gửi Kho bạc hỗ trợ thanh khoản khá hạn chế.

Thị trường tiền tệ tuần 25 - 29/5: Hơn 30.700 tỷ đồng được bơm ròng ra thị trường, lãi suất liên ngân hàng áp sát 8%

Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần cuối cùng tháng 5/2026 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước đảo chiều bơm ròng 30.732,83 tỷ đồng qua kênh OMO sau hai tuần hút thanh khoản liên tiếp. Trong khi lãi suất liên ngân hàng tăng mạnh ở nhiều kỳ hạn, áp sát 8% và lên cao nhất từ đầu tháng 4/2026, tỷ giá USD/VND có dấu hiệu ổn định hơn, còn USD tự do giảm 140 đồng tuần qua.

Áp lực thanh khoản ngân hàng vẫn khó hạ nhiệt

Theo dự báo của Công ty cổ phần Chứng khoán Rồng Việt, áp lực thanh khoản hệ thống ngân hàng và xu hướng tăng của lãi suất chưa sớm chấm dứt, trong bối cảnh tăng trưởng huy động tiếp tục thấp hơn tín dụng.

Thị trường tiền tệ tuần 18 - 22/5: Bơm ròng 8.000 tỷ đồng, lãi suất liên ngân hàng dự báo duy trì vùng cân bằng 6%

Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 18 - 22/5 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng khoảng 8.000 tỷ đồng qua kênh OMO trong bối cảnh lãi suất liên ngân hàng duy trì quanh vùng 6% - mức được xem là đủ để hỗ trợ tỷ giá nhưng chưa tạo áp lực lớn lên lãi suất huy động. Trong khi đó, tỷ giá trung tâm tăng chậm lại, song áp lực từ đồng USD quốc tế neo cao vẫn hiện hữu.

Vẫn xuất hiện ngân hàng tăng lãi suất huy động, Ngân hàng Nhà nước yêu cầu siết kiểm tra

Ngân hàng Nhà nước chỉ rõ vẫn còn hiện tượng một số ngân hàng thương mại thực hiện điều chỉnh tăng lãi suất. Vì vậy, Ngân hàng Nhà nước vừa yêu cầu Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tại các khu vực tăng cường kiểm tra giảm mặt bằng lãi suất tại địa bàn. Trường hợp phát hiện vi phạm, xử lý theo thẩm quyền và báo cáo ngay về Ngân hàng Nhà nước.

Tỷ giá USD hôm nay (22/5): Tỷ giá trung tâm lùi nhẹ, USD giữ đà tăng khi Fed đối mặt áp lực từ lãi suất thực âm

Sáng ngày 22/5, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm phiên cuối tuần ở mức 25.134 đồng, giảm 1 đồng so với phiên trước, trong khi chỉ số DXY tăng 0,04% lên 99,24 điểm. Đồng USD tiếp tục được hỗ trợ khi lãi suất thực tại Mỹ lần đầu rơi vào vùng âm sau 03 năm, gia tăng kỳ vọng Fed sẽ duy trì chính sách tiền tệ thắt chặt lâu hơn.

Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 5/2026

Mặt bằng lãi suất huy động đã đồng loạt hạ nhiệt sau chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước, nhưng đà giảm đang có dấu hiệu chững lại sau khoảng 01 tháng gần đây. Hiện Agribank dẫn đầu nhóm “big 4” về lãi suất huy động kỳ hạn ngắn, trong khi MB nổi bật ở kỳ hạn dài 24 tháng. Các ngân hàng vẫn duy trì lãi suất tiền gửi online ở vùng cao sau khi cộng thêm lãi suất hấp dẫn.

Chênh lệch tín dụng - huy động lên 1,4 triệu tỷ đồng, áp lực LDR bớt căng khi tính 20% tiền gửi Kho bạc

Nhóm phân tích MBS đánh giá, chênh lệch giữa tín dụng và huy động của hệ thống đã tăng lên khoảng 1,4 triệu tỷ đồng vào tháng 4/2026, tương đương 7,22% dư nợ, gây áp lực lên tỷ lệ LDR. Thông tư 08/2026/TT-NHNN được kỳ vọng giúp các ngân hàng quốc doanh giảm tỷ lệ LDR khoảng 1,1 - 1,5% và bổ sung thêm dư địa cho vay tương đương 0,3 - 0,4% tổng dư nợ toàn hệ thống.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0,20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80