Top ngân hàng có lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 10/2025

Khảo sát từ đầu tháng 9 đến nửa cuối tháng 10/2025 cho thấy, mặt bằng lãi suất huy động tại nhiều ngân hàng thương mại nhích tăng 10 - 30 điểm cơ bản ở các kỳ hạn ngắn, tạo nên diễn biến sôi động hơn so với tháng trước. Nhóm “big 4” quốc doanh vẫn giữ nguyên mức lãi suất ổn định. Do đó, bảng xếp hạng các ngân hàng trả lãi cao có nhiều thay đổi đáng chú ý.
aa

Top ngân hàng có lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 9

Top các ngân hàng được “chọn mặt gửi tiền” giữa thời lãi suất thấp USD tăng 3,45%, điều hành tỷ giá linh hoạt cân bằng với lãi suất nhằm giữ vững giá trị VND Lãi suất huy động nhích lên sau nhiều tuần "lặng sóng"

Khảo sát của phóng viên cho thấy, từ đầu tháng 9 đến nửa cuối tháng 10/2025, mặt bằng lãi suất huy động tại nhiều ngân hàng thương mại có xu hướng tăng nhẹ từ 0,1 - 0,3 điểm phần trăm/năm gồm: VPBank, NCB, GPBank, BacABank..., tập trung ở các kỳ hạn ngắn dưới 6 tháng, trong khi số ngân hàng điều chỉnh giảm "nhỏ giọt" hơn.

Ngân hàng nào trả lãi cao nhất?

Theo bảng lãi suất huy động tháng 10/2025, nhóm "big 4" Vietcombank, BIDV, VietinBank và Agribank đang giữ mặt bằng lãi suất thấp và lãi suất "bất động" nhiều tháng qua, chỉ quanh 1,6 - 2,1%/năm cho kỳ hạn 1 tháng và 4,6 - 4,7%/năm cho kỳ hạn 12 tháng, phản ánh chính sách huy động ổn định, ít cạnh tranh bằng lãi suất.

Top ngân hàng có lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 10/2025
Đồ hoạ: Ánh Tuyết.
Trong nhóm ngân hàng thương mại lớn, VPBank tiếp tục giữ vị trí dẫn đầu về lãi suất huy động ở hầu hết các kỳ hạn. Tại kỳ hạn 12 tháng, VPBank vẫn dẫn đầu với 5%/năm, sau đó là Techcombank (4,65%) và MB (4,85%), trong khi ACB duy trì mức thấp nhất nhóm với 4,4%/năm.

Trong nhóm ngân hàng thương mại lớn, VPBank tiếp tục giữ vị trí dẫn đầu về lãi suất huy động ở hầu hết các kỳ hạn. Cụ thể, ngân hàng này trả 3,6%/năm cho kỳ hạn 1 - 3 tháng, cao nhất trong nhóm, vượt trội so với mức 3,15%/năm của Techcombank hay 3,2%/năm của MB. Ở kỳ hạn 6 tháng, VPBank và Techcombank trả lãi suất mức 4,45 - 4,5%/năm, bỏ xa ACB (3,5%) và MB (4,2%).

Trong nhóm các ngân hàng còn lại, hiện các ngân hàng yếu kém chuyển giao bắt buộc vẫn duy trì trả lãi cao nhất hệ thống. Theo đó, VCBNeo tiếp tục dẫn đầu thị trường ở nhiều kỳ hạn sau khi điều chỉnh tăng lãi suất tháng qua, trở thành ngân hàng trả lãi cao nhất với mức 4,15%/năm kỳ hạn 1 tháng; 4,35% kỳ hạn 3 tháng và 5,6%/năm cho kỳ hạn 6 tháng. Ở kỳ hạn ngắn 1 - 3 tháng, VCBNeo cũng vượt trội với mức 4,15 - 4,35%/năm, cao hơn hẳn mặt bằng chung.

Vikki Bank duy trì sức hút ở vị trí thứ hai nhiều kỳ hạn, với mức 5,33%/năm kỳ hạn 6 tháng và 5,62%/năm kỳ hạn 12 tháng. MBV trả lãi suất 5,3%/năm kỳ hạn 6 tháng và 5,7%/năm kỳ hạn 12 tháng là một trong những mức cao trong nhóm ngân hàng thương mại.

Ở kỳ hạn 1 tháng, nhiều ngân hàng chung top ba trả lãi suất cao nhất hệ thống với mức 3,8%/năm như: MBV, BacABank, BVBank, VietBank, NCB, OCB, CIMB.

Về biến động lãi suất tháng qua, khảo sát của phóng viên cho thấy, lãi suất huy động tại nhiều ngân hàng thương mại tăng nhẹ, tập trung ở kỳ hạn ngắn. Đơn cử, VPBank tăng mạnh nhất 0,3 điểm phần trăm ở cả kỳ hạn 1 và 3 tháng, lên 3,9%/năm. BacABank tăng 0,2 - 0,25%, trong khi GPBank và NCB cùng tăng 0,1%.

Ở kỳ hạn 6 tháng, cuộc đua lãi suất sôi động với VPBank, VCBNeo cùng tăng 0,3%, đạt lần lượt 4,5% và 5,6%/năm. NCB, Vikki Bank, BacABank cũng tăng nhẹ, trong khi GPBank bắt đầu giảm 0,1%.

Lãi suất huy động sẽ chịu áp lực cuối năm

Nhìn nhận về xu hướng điều chỉnh lãi suất ngân hàng tháng qua, theo Công ty Cổ phần Chứng khoán MB (MBS), trong số các ngân hàng được theo dõi, VPBank là trường hợp nổi bật khi tăng lãi suất tiền gửi 30 điểm cơ bản đối với các kỳ hạn từ 1 - 9 tháng. Trung bình lãi suất kỳ hạn 3 tháng của nhóm ngân hàng thương mại tư nhân tăng nhẹ 4 điểm cơ bản so với tháng trước lên mức 3,46%. Trong khi đó, trung bình lãi suất kỳ hạn 12 tháng của nhóm ngân hàng tư nhân vẫn ở mức 4,89%, giảm 16 điểm cơ bản so với đầu năm.

Còn lãi suất của nhóm các ngân hàng quốc doanh giữ ổn định ở mức 4,7%. Theo đó, trung bình lãi suất kỳ hạn 12 tháng của các ngân hàng thương mại vẫn duy trì ở mức 4,78% tháng thứ ba liên tiếp. Nhìn chung, mặt bằng lãi suất vẫn đang được duy trì ở mức thấp để để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế như theo chỉ đạo của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước.

Top ngân hàng có lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 10/2025
Top ngân hàng có lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 10/2025. Ảnh tư liệu.

Theo đánh giá của nhóm phân tích MBS, đến cuối năm, lãi suất huy động dự kiến sẽ chịu áp lực từ tốc độ tăng trưởng tín dụng cao, đặc biệt sau thông báo của Ngân hàng Nhà nước về việc tăng thêm chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng cho các tổ chức tín dụng nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh tế.

Số liệu từ Ngân hàng Nhà nước cho thấy, tính đến ngày 29/9, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đã tăng 13,37% so với cuối năm 2024 và tăng 19,6% so với cùng kỳ. Theo ước tính của Phó thống đốc Ngân hàng Nhà nước, tăng trưởng tín dụng năm nay có thể lên tới 20%, đây là mức cao nhất trong nhiều năm.

Ngân hàng Nhà nước vẫn tiếp tục yêu cầu các tổ chức tín dụng triển khai đồng bộ các giải pháp để ổn định và phấn đấu giảm lãi suất huy động, góp phần ổn định thị trường tiền tệ và tạo dư địa giảm lãi suất cho vay.

"Cùng với kỳ vọng về việc Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) cắt giảm lãi suất thêm 50 điểm cơ bản trong quý IV/2025, qua đó nâng tổng mức cắt giảm trong năm nay lên 75 điểm cơ bản, sẽ tạo điều kiện để Ngân hàng Nhà nước duy trì môi trường lãi suất thấp. Dựa vào các yếu tố trên, chúng tôi dự báo lãi suất huy động kỳ hạn 12 tháng của các ngân hàng thương mại đến cuối năm 2025 sẽ duy trì ổn định ở mức 4,8%" - chuyên gia MBS dự báo.

Cũng theo số liệu của Ngân hàng Nhà nước, đến cuối tháng 7/2025, tiền gửi dân cư đạt hơn 7,7 triệu tỷ đồng, tăng gần 10% so với đầu năm và là mức cao nhất trong 5 năm.

Chỉ riêng tháng 7, người dân gửi thêm hơn 54 nghìn tỷ đồng vào ngân hàng, dù lãi suất kỳ hạn 12 tháng phổ biến dưới 6%/năm. Diễn biến này cho thấy xu hướng ưu tiên kênh tiết kiệm nhờ tính ổn định, rủi ro thấp hơn so với thị trường chứng khoán hay bất động sản. Một lý do khác, dòng tiền gửi tăng dù lãi suất thấp phản ánh vòng quay tiền tệ vẫn đang vận hành tốt.

Trong khi đó, tiền gửi tổ chức kinh tế giảm tháng thứ 5 liên tiếp, còn gần 8 triệu tỷ đồng, giảm 127.500 tỷ đồng (1,6%) so với tháng trước. Doanh nghiệp đang rút bớt vốn nhàn rỗi để tái đầu tư, trả nợ hoặc mở rộng sản xuất khi kinh tế tăng trưởng. Dù vậy, tính từ đầu năm, tiền gửi khối tổ chức vẫn tăng hơn 4%, trái ngược mức giảm hơn 1% cùng kỳ năm ngoái./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (5/6): Tỷ giá trung tâm nhích lên 25.147 đồng, DXY duy trì vùng đỉnh 2 tháng

Sáng ngày 5/6, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.147 đồng/USD, tăng 2 đồng phiên cuối tuần. Giá USD tự do phổ biến quanh 26.380 - 26.410 VND/USD, tương đương mức giao dịch tại ngân hàng thương mại. Chỉ số DXY tăng 0,02% lên 99,43 điểm, duy trì gần mức cao 02 tháng, nhờ nhu cầu trú ẩn an toàn trước căng thẳng Mỹ - Iran.

Tỷ giá USD hôm nay (4/6): Tỷ giá USD bán ra chạm trần, đồng Yên suy yếu chạm ngưỡng 160 JPY/USD

Sáng ngày 4/6, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.145 đồng, giữ nguyên so với phiên trước, trong khi giá USD bán ra tại các ngân hàng chạm trần 26.402 đồng. Chỉ số DXY duy trì ở mức 99,43 điểm khi nhu cầu nắm giữ USD tăng lên do căng thẳng Mỹ - Iran leo thang, trong khi đồng Yên Nhật suy yếu chạm ngưỡng 160 JPY/USD.

Tỷ giá USD hôm nay (3/6): Tỷ giá trung tâm tiếp đà tăng, DXY nhích nhẹ giữa bất định đàm phán Mỹ - Iran

Sáng ngày 3/6, tỷ giá trung tâm được công bố ở mức 25.145 đồng, tăng 4 đồng so với phiên trước, USD tự do bật tăng quanh mức 26.380 - 26.410 VND/USD. Chỉ số DXY ở mức 99,23 điểm, tăng nhẹ 0,01% khi căng thẳng Mỹ - Iran leo thang trở lại, làm gia tăng lo ngại về triển vọng duy trì lệnh ngừng bắn và đàm phán hòa bình.

Tỷ giá USD hôm nay (2/6): USD nhích nhẹ giữa lo ngại căng thẳng tại eo biển Hormuz và Bab el-Mandeb

Sáng ngày 2/6, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.141 đồng, tăng 3 đồng, trong khi chỉ số DXY tăng nhẹ lên 99,21 điểm. Thị trường tài chính toàn cầu tiếp tục theo dõi sát diễn biến địa chính trị tại Trung Đông, đặc biệt là nguy cơ Iran và các đồng minh phong tỏa eo biển Hormuz, mở rộng căng thẳng sang eo biển Bab el-Mandeb.

VDSC: Mặt bằng lãi suất khó hạ nhiệt trong 3 tháng tới

Dù thị trường đang đặt cược khoảng 50% khả năng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) sẽ tăng lãi suất vào cuối năm, nhưng Chứng khoán Rồng Việt (VDSC) cho rằng, kịch bản này khó xảy ra và mặt bằng lãi suất tại Việt Nam khó hạ nhiệt trong 3 tháng tới, do áp lực tỷ giá, mức chênh lệch hoán đổi VND - USD vẫn cao và nguồn tiền gửi Kho bạc hỗ trợ thanh khoản khá hạn chế.

Tỷ giá USD hôm nay (1/6): USD trong nước lùi nhẹ, DXY tăng trở lại giữa loạt tín hiệu từ Mỹ - Iran

Sáng ngày 1/6, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.138 đồng phiên đầu tháng, giảm 1 đồng so với phiên cuối tuần trước; trong khi DXY tăng nhẹ 0,15% lên 99,06 điểm đầu tuần. Thị trường quốc tế tiếp tục theo dõi diễn biến đàm phán hòa bình giữa Mỹ và Iran, dù hai bên được cho là vẫn còn nhiều bất đồng.

Thị trường tiền tệ tuần 25 - 29/5: Hơn 30.700 tỷ đồng được bơm ròng ra thị trường, lãi suất liên ngân hàng áp sát 8%

Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần cuối cùng tháng 5/2026 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước đảo chiều bơm ròng 30.732,83 tỷ đồng qua kênh OMO sau hai tuần hút thanh khoản liên tiếp. Trong khi lãi suất liên ngân hàng tăng mạnh ở nhiều kỳ hạn, áp sát 8% và lên cao nhất từ đầu tháng 4/2026, tỷ giá USD/VND có dấu hiệu ổn định hơn, còn USD tự do giảm 140 đồng tuần qua.

Việt Nam và Hoa Kỳ ra tuyên bố chung về tiền tệ

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam vừa công bố tuyên bố chung về tiền tệ với Bộ Tài chính Hoa Kỳ, trong đó, hai bên tái khẳng định cam kết tránh thao túng tỷ giá hoặc hệ thống tiền tệ quốc tế. Các biện pháp vĩ mô hay kiểm soát dòng vốn không nhằm vào tỷ giá để phục vụ mục đích cạnh tranh.
Xem thêm
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0,20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80