Xây dựng thương hiệu cho con tôm Việt Nam

Theo Trần Trung/TTXVN
Liệu thời điểm này đã quá muộn để xây dựng thương hiệu hay không khi mà con tôm Việt Nam đã khẳng định chỗ đứng tại 90 quốc gia? Tuy nhiên, thực tế, việc xây dựng thương hiệu cho tôm Việt mới chỉ ở những bước đầu (?!).
aa

Việt Nam là quốc gia đứng thứ 3 thế giới về sản xuất tôm và dẫn đầu thế giới về sản xuất tôm sú. Tôm cũng là mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất trong nhóm hàng thủy sản của Việt Nam. Xung quanh vấn đề thương hiệu cho con tôm Việt, ông Đào Đức Huấn, Giám đốc Trung tâm Phát triển nông thôn (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) đã có trao đổi với báo giới.

* PV: Việt Nam là quốc gia đứng thứ 3 thế giới về sản xuất tôm và dẫn đầu thế giới về sản xuất tôm sú. Có thời điểm xuất khẩu tôm đạt đến gần 4 tỷ USD và hiện đã có mặt ở nhiều thị trường. Xin ông có thể cho biết, đến thời điểm hiện tại, con tôm Việt Nam đã thực sự có thương hiệu trên thị trường thế giới hay chưa?

Ông Đào Đức Huấn

Ông Đào Đức Huấn

- Ông Đào Đức Huấn: Trong năm 2016, xuất khẩu tôm của Việt Nam đạt 3,1 tỷ USD, vươn qua Thái Lan để đứng đầu thế giới và thị trường xuất khẩu chính của Việt Nam là Mỹ, EU, Nhật Bản….

Nếu nói con tôm Việt Nam chưa có thương hiệu thì không đúng, thực sự thì các doanh nghiệp nhập khẩu và các nhà phân phối họ đã quá hiểu về tiềm năng và thế mạnh của tôm Việt Nam, đó cũng là thương hiệu. Nhưng để người tiêu dùng biết đến rộng rãi, hiểu được và biết rõ về tôm Việt Nam thì chưa nhiều.

Bởi thương hiệu không chỉ đơn giản là nhiều người biết, mà đó là khả năng nhận diện, uy tín, niềm tin của người tiêu dùng đối với sản phẩm. Đồng thời nó còn là khả năng tiếp cận và độ tin cậy về nguồn gốc, chất lượng đối với sản phẩm trên thị trường.

* PV: Thưa ông, thời điểm này để bàn về việc xây dựng thương hiệu cho con tôm Việt Nam liệu có là quá muộn?

- Ông Đào Đức Huấn: Để xây dựng một thương hiệu cần hội tụ đủ nhiều yếu tố. Thứ nhất đó là: Khả năng kiểm soát hoạt động sản xuất để đưa ra thị trường sản phẩm đồng đều, có tiêu chuẩn và đặc biệt là kiểm soát được chất lượng.

Sự phát triển sản xuất tôm trong thời gian vừa qua là giai đoạn để chúng ta định hình về khả năng sản xuất, xác định những lợi thế sản phẩm để tiếp cận thị trường một cách tốt nhất.

Thứ hai là khả năng của các doanh nghiệp: Khả năng chế biến, mở rộng thị trường, đặc biệt là hình thành sản phẩm riêng để tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Vấn đề này đòi hỏi các doanh nghiệp hội tụ đủ cả nguồn lực về tài chính, con người, công nghệ và sự quyết tâm để vươn ra thị trường thế giới.

Thương hiệu tôm chỉ có ý nghĩa khi sản phẩm của chúng ta đến được tay người tiêu dùng với dấu hiệu nhận diện rõ ràng, chất lượng đảm bảo, ổn định và được người tiêu dùng chấp nhận và tin tưởng.

Với những lý do đó, ở thời điểm này tuy có hơi trễ nhưng không quá muộn, chúng ta vẫn còn nguyên cơ hội và đây là thời điểm hội tụ đủ điều kiện để tiến hành xây dựng thương hiệu tôm Việt Nam.

* PV: Thưa ông, điều khó nhất để xây dựng thương hiệu cho con tôm Việt Nam là gì?

- Ông Đào Đức Huấn: Khó khăn nhất hiện nay đó là xây dựng được hình ảnh “Product of Việt Nam”, chúng ta phải thay từ “Made in Vietnam” thành từ “Product of Vietnam”. Điều này có nghĩa rằng chúng ta phải hình thành “tiêu chuẩn” mang thương hiệu tôm Việt Nam.

Trong điều kiện hiện nay, chúng ta có tôm chân trắng, tôm sú, tôm biển, vậy chọn con tôm nào, lấy tiêu chuẩn chất lượng nào để xây dựng thương hiệu, lấy tiêu chuẩn dinh dưỡng, tiểu chuẩn an toàn thực phẩm (tôm sạch) hay tiêu chuẩn về thương mại khác…

Cũng giống như các nông sản khác, đây là thách thức lớn nhất để xây dựng thương hiệu tôm Việt Nam, trong bối cảnh các thị trường như EU, Mỹ, Nhật có quy cách chế biến, sở thích mẫu mã chế biến khác nhau, việc kiểm soát phụ gia cũng khác nhau… Vậy làm thế nào để hình thành một tiêu chuẩn chung để sản phẩm có thể đáp ứng đươc các thị trường.

Thứ hai là vấn đề kiểm soát sản xuất: vấn đề giống, dịch bệnh, môi trường vẫn là những thách thức rất lớn trong nuôi trồng tôm. Tôm là loại sản xuất đòi hỏi chi phí lớn, nhưng rủi ro lại cao. Do đó, nếu không có sự ổn định và khả năng kiểm soát về giống, dịch bệnh thì việc áp dụng các điều kiện khác cũng sẽ rất khó khăn.

Giải quyết đồng bộ cả về giống, kỹ thuật và khả năng kiểm soát dịch bệnh sẽ là 3 vấn đề thách thức khi xây dựng thương hiệu tôm Việt Nam.

Thứ ba là sự chủ động và quyết tâm của hệ thống doanh nghiệp chế biến và thương mại. Để xây dựng và duy trì sự ổn định thương hiệu tôm Việt Nam, thì vai trò của doanh nghiệp sẽ phải là nòng cốt, do đó chữ “đức” và chữ “tín” của doanh nghiệp sẽ đóng vai trò rất quan trọng, cùng với đó là sự hợp tác, đồng thuận của cộng đồng doanh nghiệp trong việc tạo dựng một công cụ chung, một định hướng chung của toàn ngành.

Điều này không dễ dàng, bởi thực tế nhiều ngành hàng nông sản của chúng ta cho thấy, các doanh nghiệp tập trung cạnh tranh nội bộ nhiều hơn là cạnh tranh với doanh nghiệp các nước khác. Chúng ta có thể làm nhiều cách để có thể bán được hàng, mà những điều đó lại làm giảm uy tín cho cả một ngành hàng và cả một quốc gia.

* PV: Như ông đã trình bày là con tôm có rất nhiều chi tiết để xây dựng bộ chuẩn làm thương hiệu; trong đó có khâu chọn giống. Vậy xin ông cho biết hiện nay, nuôi tôm ở nước ta đã có giống và chủ động khâu sản xuất giống chưa?

- Ông Đào Đức Huấn: Ở Việt Nam hiện nay tôm bố mẹ được cung cấp từ nguồn khai thác tự nhiên kết hợp với nhập khẩu từ nước ngoài. Chất lượng tôm bố mẹ vẫn chưa ổn định, mặc dù đã được Chính phủ quan tâm đầu tư, song vẫn chưa mang lại kết quả mong muốn. Bên cạnh đó, chúng ta chưa làm chủ công nghệ chọn tạo, cung ứng giống, giá thành sản xuất tôm còn cao, phần lớn hạ tầng vùng nuôi chưa đảm bảo.

Cả nước hiện có khoảng 2.422 cơ sở sản xuất giống tôm nước lợ; trong đó có 1.861 cơ sở sản xuất giống tôm sú và 561 cơ sở sản xuất giống tôm thẻ chân trắng, cung cấp hơn 100 tỷ tôm giống mỗi năm, tuy nhiên, lượng tôm giống này chỉ đáp ứng được một phần nhu cầu nội địa, đặc biệt là tôm chân trắng.

Đồng thời việc các chợ tôm giống có nguồn gốc, xuất xứ không rõ ràng, không đủ giấy tờ chứng minh nguồn gốc và kiểm dịch, chất lượng không đảm bảo gây rủi ro cho hoạt động chăn nuôi của người dân.

* PV: Tình trạng bơm, chích tạp chất vào tôm nguyên liệu làm mất uy tín thương hiệu tôm Việt Nam và mới đây Chính phủ cũng ra thông điệp cứng rắn tuyên chiến với những hành vi này. Theo ông, để ngăn chặn tình trạng này thì các chế tài hiện nay đã đủ sức răn đe và cần có những thay đổi nào để phù hợp với thực tế?

- Ông Đào Đức Huấn: Chính phủ đã ban hành Đề án kiểm soát ngăn chặn hành vi đưa tạp chất vào tôm nguyên liệu và sản xuất, kinh doanh sản phẩm tôm có tạp chất.

Bên cạnh đó, các cơ quan chức năng cần kịp thời thanh tra, kiểm tra đột xuất, xử lý vi phạm các cơ sở sản xuất, kinh doanh tôm có dấu hiệu đưa tạp chất vào tôm hoặc sản xuất, kinh doanh tôm có chứa tạp chất.

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cũng đang tiến hành rà soát, đề xuất, sửa đổi, bổ sung các biện pháp xử phạt vi phạm hành chính đối với các hành vi vi phạm về tạp chất; Bộ Công an phối hợp với Tòa án nhân dân Tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân… xác định tội danh đối với hành vi tổ chức, tham gia đưa tạp chất vào tôm nguyên liệu và sản xuất, kinh doanh tôm có chứa tạp chất.

Ngoài việc tăng cường công tác quản lý và hoàn thiện chính sách, pháp luật, thì vấn đề cũng rất quan trọng đó là vấn đề tổ chức sản xuất. Tăng cường việc sản xuất, chế biến theo liên kết chuỗi giá trị.

* PV: Tại Hội nghị phát triển ngành tôm Việt Nam mới đây, bên cạnh việc phải xây dựng thương hiệu tôm trên cơ sở đặc thù, lợi thế từng địa phương, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cũng đã đưa ra mục tiêu trước năm 2025, kim ngạch xuất khẩu ngành tôm phải đạt 10 tỷ USD. Theo ông, để đạt mục tiêu này, ngành nông nghiệp cần phải có những giải pháp nào?

- Ông Đào Đức Huấn: Tới đây, chúng ta cần cân đối diện tích nuôi trồng phù hợp với điều kiện tự nhiên, thế mạnh của từng vùng, mở rộng diện tích trong điều kiện có thể để tránh các rủi ro về môi trường và dịch bệnh. Tăng cường áp dụng khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ cao trong sản xuất tôm thẻ chân trắng.

Việc kiểm soát được vấn đề về giống và dịch bệnh; trong đó đặc biệt là vấn đề dịch bệnh cũng là để hạn chế những rủi ro trong sản xuất.

Bên cạnh đó, nâng cao giá trị của sản phẩm thông qua việc kiểm soát về chất lượng, quy trình sản xuất, chứng nhận chất lượng để đáp ứng yêu cầu của các thị trường khó tính.

Ngoài ra, cần phát triển các sản phẩm tôm an toàn, sinh thái nhằm nâng cao giá bán sản phẩm. Mở rộng các sản phẩm chế biến sâu để gia tăng giá trị của sản phẩm.

* PV: Xin cảm ơn ông!

Theo Trần Trung/TTXVN

Theo Trần Trung/TTXVN

Đọc thêm

Dệt may, da giày lo mất đơn hàng do chi phí đầu vào tăng 30%

Dệt may, da giày lo mất đơn hàng do chi phí đầu vào tăng 30%

Chi phí logistics, nguyên liệu tăng mạnh, có mặt hàng tới 30%, khiến dệt may, da giày chịu áp lực kép, đối mặt nguy cơ mất đơn hàng, đứt gãy chuỗi cung ứng.
Quảng Ninh khơi thông nguồn vốn, tiếp sức doanh nghiệp bứt phá

Quảng Ninh khơi thông nguồn vốn, tiếp sức doanh nghiệp bứt phá

Trong bối cảnh đặt mục tiêu tăng trưởng cao trong năm 2026, Quảng Ninh đang triển khai đồng bộ nhiều giải pháp để khơi thông dòng vốn, cải thiện môi trường đầu tư và hỗ trợ doanh nghiệp phát triển.
TP. Hồ Chí Minh tăng cường kiểm soát thị trường xăng dầu, xử lý nghiêm hành vi găm hàng

TP. Hồ Chí Minh tăng cường kiểm soát thị trường xăng dầu, xử lý nghiêm hành vi găm hàng

Trước biến động giá xăng dầu và nhu cầu tiêu dùng tăng cao, lực lượng Quản lý thị trường TP. Hồ Chí Minh đã triển khai trực chiến 24/7, tăng cường kiểm tra các cửa hàng xăng dầu trên địa bàn nhằm đảm bảo nguồn cung và ổn định thị trường.
Vinfast thu về 3,6 tỷ USD doanh thu trong năm 2025

Vinfast thu về 3,6 tỷ USD doanh thu trong năm 2025

Nhờ tăng mạnh về sản lượng, doanh thu cả năm 2025 của VinFast tăng 105,4% so với năm trước lên 90.427,6 tỷ đồng, tương đương 3,6 tỷ USD.
Dệt may Thành Công đặt mục tiêu doanh thu gần 4.400 tỷ đồng trong năm 2026

Dệt may Thành Công đặt mục tiêu doanh thu gần 4.400 tỷ đồng trong năm 2026

Công ty cổ phần Dệt may - Đầu tư - Thương mại Thành Công dự kiến trình Đại hội đồng cổ đông kế hoạch kinh doanh năm 2026 với mục tiêu doanh thu gần 4.386 tỷ đồng, tăng hơn 20% so với kết quả năm 2025.
Cấp phép xuất nhập khẩu hóa chất kiểm soát đặc biệt qua Cổng dịch vụ công quốc gia

Cấp phép xuất nhập khẩu hóa chất kiểm soát đặc biệt qua Cổng dịch vụ công quốc gia

Thủ tục cấp giấy phép xuất khẩu, nhập khẩu hóa chất cần kiểm soát đặc biệt đã được thực hiện trực tuyến trên Cổng dịch vụ công quốc gia. Doanh nghiệp cần hoàn tất thủ tục cấp phép điện tử trước khi làm thủ tục hải quan, thay cho hình thức kiểm tra hồ sơ giấy như trước đây.
Chủ động nguyên liệu cho xăng sinh học E10: Cần chính sách dài hạn và và chuỗi cung ứng bền vững

Chủ động nguyên liệu cho xăng sinh học E10: Cần chính sách dài hạn và và chuỗi cung ứng bền vững

Việc triển khai xăng sinh học E10 trên phạm vi toàn quốc từ ngày 1/6/2026 được xem là bước đi quan trọng trong lộ trình chuyển đổi năng lượng sạch của Việt Nam. Tuy nhiên, để đảm bảo nguồn nguyên liệu Ethanol phục vụ pha chế ổn định, các chuyên gia cho rằng cần sớm hoàn thiện chính sách dài hạn, đồng thời xây dựng chuỗi cung ứng bền vững giữa nhập khẩu và phát triển sản xuất trong nước.
Đêm 21/3, Hải quan bảo trì hệ thống công nghệ thông tin, doanh nghiệp cần lưu ý

Đêm 21/3, Hải quan bảo trì hệ thống công nghệ thông tin, doanh nghiệp cần lưu ý

Cục Hải quan vừa thông báo kế hoạch bảo trì, nâng cấp hệ thống mạng tại Trung tâm dữ liệu từ 21h ngày 21/3 đến 6h ngày 22/3/2026. Trong thời gian này, kết nối tới các hệ thống công nghệ thông tin (CNTT) của ngành Hải quan sẽ tạm thời gián đoạn, doanh nghiệp cần chủ động sắp xếp thời gian làm thủ tục.
Xem thêm